Giá trị hiện đại của văn hóa truyền thống

04:29 |



Tác giả: Kim Nguyên Phố (金元浦)
Ngày xuất bản          09-2018
Nhà xuất bản Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Dịch Giả         Đỗ Văn Hiểu
Loại bìa          Bìa mềm
Số trang         392

Giới thiệu tác giả:
Kim Nguyên Phố (金元浦) sinh năm 1951, người Triết Giang, Trung Quốc. Ông là Giáo sư Văn nghệ học Đại học Nhân dân Trung Quốc, là nhà nghiên cứu Văn nghệ học đầu ngành ở Trung Quốc, trưởng phòng Nghiên cứu sản nghiệp sáng tạo văn hóa Đại học Nhân dân Trung Quốc, giáo sư thỉnh giảng đặc biệt tại Đại học thành phố Ma Cao, Nghiên cứu viên đặc biệt của Viện nghiên cứu dân sinh Trung Quốc.
Giới thiệu sách
“Giá trị hiện đại của văn hóa truyền thống” gồm 17 chương trình bày một cách dung dị, dễ hiểu về tinh thần cơ bản, đặc điểm cơ bản, phương thức tư duy, kkhuynh hướng giá trị, nhân cách lí tưởng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, đặc biệt chú trọng tinh thần văn hóa và nhân cách lí tưởng của Nho gia, Đạo gia, sự bổ sung lẫn nhau giữa tư tưởng Nho gia và Đạo gia trong tiến trình lịch sử của Trung Quốc; so sánh sự khác biệt giữa văn hóa Trung Quốc và văn hóa phương Tây. Trên cơ sở đó, cuốn sách cũng bàn đến cách thức phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại, để vừa bảo tồn phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, vừa biến nó thành một trong những động lực quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.
http://tuethy.com/
Xem tiếp…

THÔNG BÁO XÉT TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 38 (2018) Đại học Sư phạm Hà Nội

18:13 |

Căn cứ vào quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ hiện hành, trường Đại học Sư phạm Hà Nội thông báo kế hoạch tổ chức tuyển sinh nghiên cứu sinh (NCS) khoá 38 (năm 2018) như sau:

Đợt 1: Thời gian xét tuyển từ ngày 20 tháng 08 đến ngày 31 tháng 08 năm 2018.
Đợt 2: Thời gian xét tuyển từ ngày 05 tháng 11 đến ngày 15 tháng 11 năm 2018.
  1. CÁC CHUYÊN NGÀNH TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH:
TT
Ngành
Chuyên ngành
Mã số
Chỉ tiêu dự kiến cho cả hai đợt
1
Toán
Toán giải tích
62.46.01.02
04
2
Phương trình vi phân và tích phân
62.46.01.03
04
3
Đại số và lý thuyết số
62.46.01.04
04
4
Hinh học và Tôpô
62.46.01.05
04
5
Lý luận và PPDH bộ môn Toán
62.14.01.11
04
6
Vật lý
Vật lý lý thuyết và vật lý toán
62.44.01.03
04
7
Vật lý chất rắn
62.44.07.04
04
8
Lý luận và PPDH bộ môn Vật lý
62.14.01.11
04
9
Hoá học
Hoá học vô cơ
62.44.01.13
04
10
Hoá học hữu cơ
62.44.01.14
04
11
Hoá phân tích
62.44.01.18
04
12
Hoá lý thuyết và hoá lý
62.44.01.19
04
13
Lý luận và PPDH bộ môn Hoá học
62.14.01.11
04
14
Sinh học
Động vật học
62.42.01.03
04
15
Sinh lí học thực vật
62.42.30.05
04
16
Vi sinh vật học
62.42.01.07
04
17
Sinh thái học
62.42.01.20
04
18
Di truyền học
62.42.01.21
04
19
Lý luận và PPDH bộ môn Sinh học
62.14.01.11
04
20
Địa lý
Địa lý học
62.31.05.01
04
21
Địa lý tự nhiên
62.44.02.17
04
22
Lý luận và PPDH bộ môn Địa lý
62.14.01.11
04
23
Sư phạm kỹ thuật
Lý luận và PPDH bộ môn Kỹ thuật công nghiệp
62.14.01.11
04
24
Ngữ văn
Ngôn ngữ Việt Nam
62.22.01.02
04
25
Lý luận văn học
62.22.01.20
04
26
Văn học Việt Nam
62.22.01.21
04
27
Văn học dân gian
62.22.01.25
04
28
Hán Nôm
62.22.01.04
04
29
Lý luận và PPDH bộ môn Văn và tiếng Việt
62.14.01.11
04
30
Văn học Nước ngoài
62.22.02.45
04
31
Lịch sử
Lịch sử thế giới
62.22.03.11
04
32
Lịch sử Việt Nam
62.22.03.13
04
33
Lý luận và PPDH bộ môn Lịch sử
62.14.01.11
04
34
Tâm lý
Lý luận và lịch sử giáo dục
62.14.01.02
04
35
Tâm lý học chuyên ngành
62.31.04.01
04
36
Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục
62.14.01.14
04
38
Giáo dục chính trị
Lý luận và PPDH bộ môn Giáo dục Chính trị
62.14.01.11
04
38
Giáo dục Tiểu học
Lý luận và PPDH Tiểu học
62.14.01.10
04
39
Giáo dục Mầm non
Giáo dục Mầm non
62.14.01.01
04
40
Triết học
Triết học
62.22.03.01
04
II.  ĐIỀU KIỆN DỰ TUYỂN:
            1. Điều kiện về văn bằng:
            Người dự tuyển cần thoả mãn một trong các điều kiện về văn bằng sau:
            a. Có bằng thạc sĩ đúng chuyên ngành hoặc chuyên ngành gần, chuyên ngành phù hợp với chuyên ngành đăng ký dự tuyển.
            Chú ý:
           Đối với người dự tuyển có bằng tốt nghiệp thạc sĩ theo chương trình định hướng nghiên cứu có thể tiếp tục tham gia chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ.
           * Đối với người dự tuyển có bằng tốt nghiệp thạc sĩ theo chương trình định hướng ứng dụng để tham gia chương trình đào tạo tiến sĩ phải học bổ sung một số kiến thức cơ sở ngành và phương pháp nghiên cứu theo yêu cầu của chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ. (để biết thêm chi tiết các thí sinh có thể liên hệ với phòng Sau đại học – Trường ĐHSP Hà Nội).
           b. Có bằng thạc sĩ chuyên ngành khác và có bằng tốt nghiệp đại học đúng ngành hoặc ngành phù hợp với ngành đăng ký dự tuyển.
           c. Có bằng tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên, đúng ngành hoặc ngành phù hợp với chuyên ngành đăng ký dự tuyển.
           Chú ý:
Văn bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cần phải có văn bản công nhận về trình độ đào tạo và đủ điều kiện được tiếp tục học Sau đại học tại các cơ sở đào tạo trong nước của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) gửi kèm theo khi nộp hồ sơ xét tuyển.
          2. Điều kiện về bài báo:
         Các thí sinh phải đáp ứng một trong hai điều kiện sau:
         a. Là tác giả của ít nhất 01 bài báo liên quan đến lĩnh vực dự định nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước hoặc nước ngoài có phản biện trong thời hạn 03 năm (36 tháng) tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ.
         b. Là tác giả của ít nhất 01 báo cáo liên quan đến lĩnh vực dự định nghiên cứu đăng trên kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành trong nước hoặc quốc tế có phản biện (có chỉ số ISSN) trong thời hạn 03 năm (36 tháng) tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ.
            3. Đề cương nghiên cứu:
        Đề cương dự định nghiên cứu cần phản ánh trí tuệ, những điểm mạnh và tích cực của người viết, trình bày bằng văn phong trong sáng, rõ ràng, qua đó cung cấp một hình ảnh rõ nét về thí sinh, với những thông tin mới mẻ (không lặp lại những thông tin có thể thấy trong hồ sơ như kết quả học tập, nghiên cứu...). Đề cương dài tối thiểu 5 trang khổ A4, đóng bìa mềm, trên bìa ghi rõ Họ tên, tên đề tài, chuyên ngành, mã số và cán bộ hướng dẫn (nếu có). Đề cương nghiên cứu gồm những nội dung chính sau đây:
            a. Trình bày rõ ràng đề tài hoặc lĩnh vực nghiên cứu, lý do lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu, mục tiêu và mong muốn đạt được;
            b. Lý do lựa chọn trường ĐHSPHN làm cơ sở đào tạo;
            c. Kế hoạch thực hiện trong từng thời kỳ của thời gian đào tạo;
            d. Những kinh nghiệm, kiến thức, sự hiểu biết cũng như những chuẩn bị của thí sinh trong vấn đề hay lĩnh vực dự định nghiên cứu;
            e. Dự kiến việc làm sau khi tốt nghiệp;
            f. Đề xuất người hướng dẫn.
            4. Thư giới thiệu:
Thí sinh phải có tối thiểu 02 thư giới thiệu của các nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc tiến sĩ tiến sĩ cùng chuyên ngành, hoặc một thư giới thiệu của một nhà khoa học có chức danh khoa học hoặc học vị tiến sĩ cùng chuyên ngành và một thư giới thiệu của thủ trưởng cơ quan công tác của thí sinh. Những người giới thiệu này cần có ít nhất 06 tháng cùng công tác hoặc hoạt động chuyên môn với thí sinh. Thư giới thiệu phải có những nhận xét, đánh giá về năng lực và phẩm chất của người dự tuyển, cụ thể:
            a. Phẩm chất đạo đức, đặc biệt đạo đức nghề nghiệp;
            b. Năng lực hoạt động chuyên môn;
            c. Phương pháp làm việc;
            d. Khả năng nghiên cứu;
            đ. Khả năng làm việc theo nhóm;
            e. Điểm mạnh và yếu của người dự tuyển;
            g. Triển vọng phát triển về chuyên môn;
            h. Những nhận xét khác và mức độ ủng hộ, giới thiệu thí sinh làm nghiên cứu sinh.
            5. Điều kiện về ngoại ngữ:
            Người dự tuyển phải đáp ứng một trong các yêu cầu về ngoại ngữ như sau:
             a. Đối với người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ là công dân Việt Nam:
Người dự tuyển là công dân Việt Nam cần phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
             a.1 Văn bằng
- Bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp cho người học toàn thời gian ở nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong quá trình học tập là tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài khác (tiếng Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung);
- Bằng tốt nghiệp đại học các ngành ngôn ngữ nước ngoài (tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung) do các cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp;
             a.2 Chứng chỉ ngoại ngữ 
Chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT từ 45 trở lên hoặc Chứng chỉ IELTS (Academic Test) từ 5.0 trở lên do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 02 năm (24 tháng) hoặc các chứng chỉ trong bảng tham chiếu (*) các chứng chỉ ngoại ngữ dưới đây tính từ ngày cấp (lần thứ nhất) đến ngày nộp hồ sơ.
* Chú ý:
Người dự tuyển đáp ứng quy định tại mục 2.1.1 khi ngôn ngữ sử dụng trong thời gian học tập không phải là tiếng Anh; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học ngành ngôn ngữ nước ngoài không phải là tiếng Anh; hoặc đáp ứng quy định tại mục 2.1.2 khi có các chứng chỉ tiếng nước ngoài khác tiếng Anh ở trình độ tương đương (xem Bảng tham chiếu (*)) do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 02 năm (24 tháng) tính đến ngày nộp hồ sơ thì phải có khả năng giao tiếp được bằng tiếng Anh trong chuyên môn (có thể diễn đạt những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn cho người khác hiểu bằng tiếng Anh và hiểu được người khác trình bày những vấn đề chuyên môn bằng tiếng Anh).
            b. Đối với người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ là công dân nước ngoài:
            Người dự tuyển là công dân nước ngoài cần phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
           b.1 Chứng chỉ tiếng Việt
           Có chứng chỉ trình độ tiếng Việt tối thiểu từ bậc 4 trở lên theo khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài
           b.2 Chứng chỉ ngoại ngữ
Có một trong các chứng chỉ tiếng nước ngoài là ngôn ngữ thứ hai ở trình độ tương đương theo bảng tham chiếu (*) các chứng chỉ ngoại ngữ dưới đây tính từ ngày cấp (lần thứ nhất) đến ngày nộp hồ sơ.
BẢNG THAM CHIẾU - CÁC CHỨNG CHỈ NGOẠI NGỮ (*)
STT
Chứng chỉ
Trình độ
1
TOEFL iBT
45 - 93
2
IELTS
5 - 6.5
3
Cambridge examination
CAE 45-59
PET Pass with Distinction
4
CIEP/Alliance française diplomas

TCF B2
DELF B2
Diplôme de Langue
5
Goethe -Institut
Goethe- Zertifikat B2
Zertifikat Deutsch für den Beruf (ZDfB)
6
TestDaF
TDN3- TDN4
7
Chinese Hanyu Shuiping Kaoshi (HSK)
HSK level 4
8
Japanese  Language Proficiency  Test (JLPT)
N2
9
ТРКИ - Тест по русскому языку как иностранному (TORFL  - Test of Russian as a Foreign Language)
ТРКИ-2

            b.3 Văn bằng
 Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo bằng ngôn ngữ thứ hai hoặc ngành, chuyên ngành đào tạo là ngôn ngữ nước ngoài của một trong các thứ tiếng sau: tiếng Việt, Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung, Nhật.
           6. Điều kiện thâm niên công tác:
Thí sinh dự tuyển vào chương trình đào tạo tiến sĩ cần có ít nhất 2 năm làm việc chuyên môn trong lĩnh vực đăng ký dự tuyển (kể từ khi tốt nghiệp đại học, tính từ ngày hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp đến ngày đăng ký xét tuyển) trừ trường hợp đối với những thí sinh mới tốt nghiệp đại học có bằng xếp loại giỏi.
III.  THỜI GIAN VÀ HÌNH THỨC ĐÀO TẠO
Với hình thức và thời gian đào tạo đối với người có bằng thạc sĩ
  • Chính quy tập trung 3 năm (36 tháng)
Với hình thức và thời gian đào tạo đối với người chưa có bằng thạc sĩ
  • Chính quy tập trung 4 năm (48 tháng)
IV.   HỒ SƠ ĐĂNG KÝ DỰ TUYỂN GỒM
       1. Phiếu đăng kí dự tuyển (theo mẫu) ghi đầy đủ các mục có trong phiếu (BẰNG  MỰC XANH).
       2. Bản sao có công chứng: bằng tốt nghiệp đại học, bảng điểm đại học; bằng thạc sĩ và bảng điểm cao học.
       3. Sơ yếu lý lịch có dán ảnh (4x6) và được xác nhận của thủ trưởng cơ quan hoặc chính quyền địa phương nơi thí sinh cư trú.
       4. Công văn giới thiệu đi dự tuyển NCS của thủ trưởng cơ quan quản lý đối với những người đang làm việc tại các cơ quan, đơn vị nhà nước và ngoài nhà nước.
       5. Giấy chứng nhận đủ sức khoẻ để học tập của một bệnh viện đa khoa.
       6. Bản sao có công chứng các quyết định tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động dài hạn chờ tuyển dụng để chứng nhận thời gian thâm niên công tác.
       7. Hai thư giới thiệu (3 bản)
       8. Một bộ danh mục cùng bản sao chụp các bài báo khoa học hoặc báo cáo (theo như điều II mục 2 của thông báo tuyển sinh) đã công bố gồm trang bìa tạp chí, trang mục lục và các trang toàn bài, thí sinh chuẩn bị thêm 05 bộ nộp cho Tiểu ban xét tuyển khi bảo vệ đề cương nghiên cứu tại hội đồng.
      9. Một bản đề cương nghiên cứu và thí sinh chuẩn bị thêm 05 bản nộp cho Tiểu ban xét tuyển khi bảo vệ đề cương nghiên cứu.
      10. Bản sao có công chứng về văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ.
      11. Ba phong bì, ghi rõ người gửi: Phòng SĐH Trường ĐHSP Hà Nội và địa chỉ cần gửi đến cho thí sinh (bao gồm cả số điện thoại di động của thí sinh).
Hồ sơ nộp trực tiếp tại Phòng Sau đại học (phòng 403 và 406) - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Khi nộp hồ sơ, thí sinh phải xuất trình các loại giấy tờ bản chính để Trường kiểm tra đối chiếu với bản sao. Sau khi hồ sơ được chấp nhận, nhà Trường sẽ gửi giấy báo xét tuyển cho thí sinh.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chỉ nhận hồ sơ đã đầy đủ các mục theo quy định. Hồ sơ đã nộp, Nhà trường sẽ không trả lại.
V. KINH PHÍ ĐÀO TẠO VÀ HỌC PHÍ
    1. Các cán bộ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước được cấp kinh phí đào tạo; các đối tượng khác phải nộp kinh phí đào tạo theo qui định của nhà nước.
    2. Tất cả các nghiên cứu sinh đều phải nộp học phí hàng năm theo qui định hiện hành của Chính phủ.
VI.  ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
    1. Các cơ quan có cán bộ cử đi dự tuyển nghiên cứu sinh cần tạo các điều kiện thuận lợi nhất về thời gian, hỗ trợ kinh phí,... để thí sinh đạt được kết quả cao nhất.
    2. Các thí sinh tự sắp xếp nơi ở trong thời gian xét tuyển.
    3. Thời hạn nhận hồ sơ:
Đợt 1: Ngày 02 tháng 05 đến 20 tháng 07 năm 2018 (Chú ý: Không nhận hồ sơ qua đường bưu điện)
Đợt 2: Ngày 10 tháng 09 đến 19 tháng 10 năm 2018 (Chú ý: Không nhận hồ sơ qua đường bưu điện)
Vào tất cả các ngày trong tuần từ thứ 2 đến thứ 6 (không kể ngày lễ và thứ 7, chủ nhật).
     4. Lệ phí xét duyệt hồ sơ: 100.000 đồng/1 bộ hồ sơ.
Địa chỉ liên hệ: Phòng Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Số 136 đường Xuân Thuỷ, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, Điện thoại:   043.7547198, số máy lẻ: 406, 425 và 221.
Chú ý: Các thí sinh có thể tải Phiếu đăng kí và Thông báo tuyển sinh trên Website: http://www.hnue.edu.vn
Phiếu đăng ký xét tuyển vui lòng tải và xem tại link dưới đây:
Phieu dang ky xet tuyen NCS K37.doc
Xem tiếp…

Cùng con học tiếng Trung

07:37 |

KHOÁ HỌC ONLINE TIẾNG TRUNG CƠ BẢN dành cho người lớn 
https://www.facebook.com/tiengtrungchobe/posts/751943365008946😍

ƯU ĐÃI đặc biệt đây ạ:
❤️ Giảm 30% cho 10 học viên đăng kí đầu tiên
❤️ Giảm thêm 10% cho nhóm 2 người
❤️ Giảm thêm 20% (so với mục 1) cho nhóm 3 người trở lên!
Khoá học được xây dựng nhằm giúp đỡ các bố mẹ cần học tiếng Trung cơ bản để đồng hành cùng con, hoặc các bạn cần tự học online. Chương trình hứa hẹn mang đến cho bố mẹ những bài học sinh động, hiện đại với các video và bài giảng điện tử, mang tính tương tác cao, đặc biệt có học trực tuyến với giáo viên, với chi phí vô cùng hợp lý ✌️✌️✌️
Xem tiếp…

Thông báo tiếp nhận hồ sơ nghiên cứu cơ bản trong Khoa học xã hội và nhân văn tài trợ bắt đầu thực hiện từ năm 2018 đợt I

07:29 |


24/07/2017 - 10:52
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia công bố tiếp nhận hồ sơ đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn tài trợ bắt đầu thực hiện từ năm 2018 đợt I. Thời hạn nhận hồ sơ đánh giá xét chọn đợt này trước 17h00 ngày 29/9/2017.

I. Mục tiêu tài trợ:
- Tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản trong các tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu, hình thành các tập thể nghiên cứu mạnh; góp phần đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao.
- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, hướng tới chuẩn mực quốc tế.
- Thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế trong nghiên cứu khoa học.

II. Phạm vi tài trợ:
Đề tài nghiên cứu cơ bản gồm các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: Triết học, đạo đức học và tôn giáo, Xã hội học, Khoa học chính trị, Kinh tế và kinh doanh, Địa lý kinh tế và xã hội, Pháp luật, Lịch sử và khảo cổ học, Dân tộc học, Tâm lý học, Khoa học giáo dục, Ngôn ngữ và văn học, Thông tin đại chúng và truyền thông, Nghệ thuật (theo bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (tải Danh mục tại đây).

III. Đối tượng tài trợ:
- Tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam; tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có chức năng nghiên cứu khoa học; tổ chức nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu với tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam.
- Cá nhân nhà khoa học là công dân Việt Nam; nhà khoa học nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu với tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân nhà khoa học Việt Nam.

 IV. Điều kiện đối với tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài và yêu cầu về kết quả đề tài:
1. Đối với tổ chức chủ trì đề tài:
a) Các tổ chức khoa học và công nghệ có đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, có chức năng hoạt động phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của đề tài;
b) Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của tổ chức chủ trì theo quy định của Quỹ.
2. Đối với chủ nhiệm đề tài:
a) Có chuyên môn phù hợp với nội dung nghiên cứu đề tài, đang làm công tác nghiên cứu tại một tổ chức khoa học và công nghệ. Trường hợp chủ nhiệm đề tài không thuộc tổ chức khoa học và công nghệ nào, phải được một tổ chức khoa học và công nghệ uy tín của Việt Nam trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp bảo trợ và chấp nhận làm tổ chức chủ trì (tổ chức chủ trì hoặc bảo trợ là tổ chức khoa học và công nghệ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản mở tại kho bạc nhà nước);
b) Có năng lực nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của đề tài: có học vị tiến sỹ hoặc học hàm phó giáo sư, giáo sư và có kết quả nghiên cứu chuyên ngành phù hợp được công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín (tải Quyết định ban hành danh mục tạp chí quốc tế và quốc gia có uy tín và Hướng dẫn tra cứu danh mục tạp chí quốc tế có uy tín tại đây) trong thời gian 05 năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
c) Có đủ thời gian để hoàn thành nội dung nghiên cứu của đề tài theo quy định. Trường hợp chủ nhiệm đề tài đi công tác, làm việc tại nước ngoài, tổng thời gian ở nước ngoài không quá 1/3 thời gian thực hiện đề tài;
d) Không vi phạm các điều kiện đăng ký chủ trì, tham gia đề tài theo quy định.
3. Thành viên nhóm nghiên cứu đề tài phải có trình độ chuyên môn và kỹ năng phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài, bao gồm:
a) Thành viên nghiên cứu chủ chốt, thư ký khoa học: có học vị tiến sỹ hoặc học hàm phó giáo sư, giáo sư và có kết quả nghiên cứu phù hợp được công bố trên các tạp chí quốc gia hoặc quốc tế có uy tín trong 05 năm tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ.
Trường hợp là thạc sĩ phải có kết quả nghiên cứu phù hợp, có 01 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín hoặc 02 bài báo công bố trên tạp chí quốc gia có uy tín hoặc 01 sách chuyên khảo trong 05 năm tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ;
b) Nghiên cứu sinh tham gia thực hiện đề tài phải có nội dung luận án phù hợp với đề tài, có quyết định giao đề tài luận án không quá 24 tháng tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ.
4. Kết quả nghiên cứu của đề tài phải đáp ứng một trong các yêu cầu sau đây:    
- Có ít nhất 01 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín và 02 bài báo công bố trên tạp chí quốc gia có uy tín;
- Có ít nhất 02 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín.
- Trường hợp vấn đề nghiên cứu không thể công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín, kết quả đề tài phải có ít nhất 01 sách chuyên khảo (đã xuất bản hoặc dưới dạng bản thảo được đánh giá đủ điều kiện để xuất bản) và 02 bài báo công bố trên tạp chí quốc gia có uy tín.
* Đối với 02 trường hợp đầu, chủ nhiệm đề tài phải là tác giả của ít nhất 01 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín là kết quả của đề tài.
* Đề tài mang tính thăm dò, khám phá, kết quả nghiên cứu phải có ít nhất 01 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín.

V. Hồ sơ đăng ký đề tài (bao gồm hồ sơ điện tử và hồ sơ in trên giấy):
1. Hồ sơ điện tử bắt buộc phải nhập trên hệ thống OMS theo biểu mẫu quy định, bao gồm:
- Đơn đăng ký đề tài NCCB (Mẫu NCCB01; Mẫu NCCB01E - Khai trực tiếp trên hệ thống);
- Thuyết minh đề cương nghiên cứu (Mẫu NCCB02Dự toán NCCB02Mẫu NCCB02EDự toán NCCB02E);
- Lý lịch khoa học của chủ nhiệm đề tài và từng thành viên nhóm nghiên cứu (Mẫu NCCB03; Mẫu NCCB03E - Khai trực tiếp trên hệ thống);
- Tài liệu chứng minh thành tích nghiên cứu của chủ nhiệm đề tài: Chỉ scan và đưa lên hệ thống những bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế trong 05 năm gần nhất có giá trị chứng minh theo quy định.
Các biểu mẫu hồ sơ đăng ký đề tài và quy định có liên quan đến Chương trình có thể tham khảo Thông tư số 37/2014/TT-BKHCN ngày 12/12/2014 về việc quản lý đề tài nghiên cứu cơ bản do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ, theo địa chỉ:
 http://www.nafosted.gov.vn/vi/archives/view/37242014TT-BKCN-26/

2. Hồ sơ in trên giấy gồm:
2.1. Bộ hồ sơ có chữ ký mực xanh (để dễ phân biệt bản gốc), dấu đỏ gồm 01 bộ tiếng Việt và 01 bộ tiếng Anh:
a.  01 đơn đăng ký in từ hệ thống OMS có xác nhận của tổ chức chủ trì hoặc bảo trợ;
b.  Thuyết minh đề cương nghiên cứu kèm dự toán kinh phí (trùng khớp với bản điện tử trên hệ thống) có xác nhận của tổ chức chủ trì hoặc bảo trợ;
c.  Lý lịch khoa học của chủ nhiệm đề tài và từng thành viên nhóm nghiên cứu in từ hệ thống OMS, có chữ ký mực xanh và xác nhận của tổ chức chủ trì hoặc bảo trợ;
d. Tài liệu chứng minh về việc đào tạo nghiên cứu sinh (bản sao)
2.2. Tài liệu chứng minh thành tích nghiên cứu của chủ nhiệm đề tài (không đóng cùng Đơn đăng ký, Thuyết minh đề tài, Lý lịch khoa học), gồm: 01 bản sao toàn văn các bài đã đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế theo quy định;
Ngoài ra, Chủ nhiệm đề tài in 02 bản Phiếu khai Hồ sơ theo mẫu của Quỹ để đối chiếu và giao nhận (Tải mẫu phiếu khai hồ sơ tại đây).
Chú ý: 
Hồ sơ điện tử sẽ được sử dụng trong quá trình đánh giá xét chọn.
Hồ sơ đăng ký đề tài không in từ hệ thống OMS sẽ không được chấp nhận.
Trong Thuyết minh về kinh phí đề tài: yêu cầu phải ghi đủ 07 mục chi tiết kinh phí; phần kinh phí không sử dụng yêu cầu ghi: 0.
Vui lòng đọc kỹ Hướng dẫn sử dụng hệ thống OMS.

VI. Địa chỉ tiếp nhận hồ sơ:
Văn phòng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
P405, Tầng 4, số 39 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại hỗ trợ về chuyên môn: 04. 3934 0411/ ext 102, 103, 104, 105
Điện thoại hỗ trợ về tin học: 04. 3936 7750/ ext 604, 605   

VII. Kế hoạch thực hiện:
Tiếp nhận hồ sơ: từ 15/8 đến 17h00 ngày 29/9/2017
Rà soát, phân loại hồ sơ: tháng 10/2017
Đánh giá xét chọn: tháng 10 - 11/2017
Công bố kết quả xét chọn: tháng 12/2017
Hoàn chỉnh hồ sơ, ký hợp đồng: tháng 01 - 02/2018

 VIII. Các văn bản liên quan: 
- Thông tư số 37/2014/TT-BKHCN ngày 12/12/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc Quy định quản lý đề tài nghiên cứu cơ bản do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ;
- Quyết định số 95/QĐ-HĐQL-NAFOSTED ngày 24/6/2016 của Hội đồng quản lý Quỹ về việc công bố Danh mục Hướng nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn thực hiện từ năm 2016.
- Quyết định số 156/QĐ-HĐQL-NAFOSTED ngày 28/8/2015 của Hội đồng quản lý Quỹ về việc công bố Danh mục tạp chí quốc tế và quốc gia có uy tín trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thực hiện từ năm 2015 (có bổ sung thay thế);
- Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/04/2015 của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ Hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước;
- Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BKNCN-BTC ngày 30/12/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính Quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước;
- Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị;
- Thông tư liên tịch số 01/2010/TT-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước.
 - Thông tư số 02/2017/TT-BNV ngày 12/5/2017 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và Hội;
- Thông tư số 09/2015/TT-BKHCN ngày 15/05/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ Quy định quản lý hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia hỗ trợ;
- Thông tư số 109/2016/TT-BTC ngày 30/6/2016 của Bộ Tài chính Quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện các cuộc điều tra thống kê, tổng điều tra thống kê quốc gia;
Các văn bản nêu trên có thể xem và tải từ trang Web của Quỹ theo địa chỉ:http://www.nafosted.gov.vn/vi/archives/

IX. Hướng dẫn lập dự toán kinh phí:
1. Quỹ hướng dẫn việc áp dụng Thông tư số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ Hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước đối với các đề tài NCCB trong lĩnh vực KHXH&NV do Quỹ tài trợ như sau:
1.1.      Kinh phí công lao động: Được tính dựa trên số ngày công thực hiện của từng thành viên và sau đó được quy đổi ra tháng. Ngày công lao động quy đổi 8h/1 ngày; trên 4h được tính 1 ngày công. Một tháng làm việc tương đương 22 ngày công.
1.2.    Chi sửa chữa, mua sắm tài sản cố định: Trong khuôn khổ Chương trình tài trợ NCCB theo quy mô đề tài, Quỹ chỉ tài trợ chi mua sắm các thiết bị nghiên cứu nhỏ, cần thiết, phục vụ trực tiếp hoạt động nghiên cứu của các đề tài.  Trong quá trình đánh giá xét chọn, Quỹ ưu tiên xem xét tài trợ các đề tài có tổ chức chủ trì đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đề tài. Việc đề xuất mua sắm trang thiết bị trong khuôn khổ đề tài phải tuân thủ theo các quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2015/BKHCN-BTC ngày 01/9/2015 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn việc quản lý, xử lý tài sản hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, chỉ được mua sắm tài sản khi các phương án thuê, điều chuyển tài sản không hiệu quả.
1.3.      Đoàn ra: Không ưu tiên tài trợ trong khuôn khổ đề tài NCCB. Nếu đề tài có nhu cầu, đề nghị thuyết minh nhu cầu và đăng ký Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực khoa học và công nghệ Quốc gia theo quy định tại Thông tư số 09/2015/TT/BKHCN ngày 15/5/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ.
1.4.      Đoàn vào: Theo quy định tài Thông tư số 01/2010/TT-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước.
2.     Về việc áp dụng Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 30/12/2015 của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước hướng dẫn việc khoán chi đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước theo Nghị định 95/2014/NĐ-CP về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KHCN:
          Để có căn cứ xem xét phê duyệt kinh phí tài trợ áp dụng theo quy định tại Thông tư, đề nghị các chủ nhiệm đề tài đề xuất cụ thể phương thức khoán chi từng phần hay khoán chi đến sản phẩm cuối cùng trong Đơn đăng ký thực hiện đề tài (Mẫu NCCB 01 và NCCB 01E).
          Quỹ sẽ xem xét việc khoán chi đến sản phẩm cuối cùng cho đề tài NCCB nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện quy định tại Điều 6 Thông tư số 27/2015/TTLT-BKNCN-BTC ngày 30/12/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính Quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.

X. Một số lưu ý:
·       Các nhà khoa học đang chủ trì đề tài NCCB do Quỹ tài trợ có thời gian kết thúc (theo hợp đồng) từ tháng 8/2017 trở về trước và nộp hồ sơ nghiệm thu đề tài trước ngày 29/9/2017 có thể đăng ký hồ sơ xét chọn đề tài bắt đầu tài trợ từ năm 2018 đợt 1.
·       Tổ chức chủ trì hoặc bảo trợ phải là tổ chức khoa học và công nghệ có tư cách pháp nhân độc lập, có đăng ký hoạt động khoa học công nghệ, có con dấu và tài khoản 3713 mở tại kho bạc Nhà nước.
·       Hồ sơ đề tài phải được xây dựng theo đúng các quy định của Quỹ. Hồ sơ không đầy đủ thông tin hoặc không theo biểu mẫu quy định sẽ không được đưa ra xem xét.
Tác giả bài viết: ChiNL
Nguồn tin: nafosted
Từ khóa: n/a
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Xem tiếp…

CẢI CÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY - NỖ LỰC VÀ BỐI RỐI

21:32 |

Thú thực, tôi đã cố tình không muốn đọc các thông tin về đổi mới, cải cách giáo dục trong những năm gần đây, bởi vì mục tiêu đưa ra đều hết sức tốt đẹp, nhưng khi giải quyết, dường như mọi người toàn tránh vấn đề cơ bản nhất, đó là vấn đề Đời sống của giáo viên. Trong thời đại kinh tế thị trường, khi mà áp lực của đời sống vật chất đối với mỗi cá nhân là quá lớn, khi mà các ngành nghề khác phát triển năng động, đem lại cuộc sống vật chất tương đối ổn cho mỗi người, khi mà tập thể không thể đòi hỏi cá nhân thuần túy chỉ có "cống hiến", "hi sinh" và mỗi cá nhân không thể an lòng khi "cống hiến", "hi sinh" cho sự nghiệp... thì mọi cuộc cải cách đổi mới trong tất cả các lĩnh vực nên bắt đầu từ vấn đề nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Tôi xin được kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong 20 năm qua, kể từ ngày tôi bước chân vào trường Đại học.


     Tôi có một anh bạn tu nghiệp tại Đức, lấy bằng tiến sĩ, khi về nước, việc đầu tiên là anh ấy gác những gì đã học được từ nước ngoài, sử dụng kiến thức đại học đi Bán cháo phổi kiếm tiền mua căn nhà nho nhỏ và nuôi mình nuôi con. Xin mọi người đừng so sánh lương tiến sĩ với thu nhập của nông dân, bởi vì, để có bằng tiến sĩ, ngoài việc họ bỏ ra 12 năm học phổ thông như lao động phổ thông khác, họ phải bỏ ra 4 năm đại học, 2 năm thực sĩ, 3-4 năm học tiến sĩ, tổng cộng đến 10 năm, đó là chưa kể khi học ở nước ngoài, họ phải mất bao nhiêu năm trau dồi ngoại ngữ nữa. Vậy mà ở tuổi 35, lương của họ chưa nổi 10 triệu 1 tháng, trong khi chi tiêu hàng tháng cho 1 gia đình 4 người ở Hà Nội có khi nào dưới 10 triệu 1 tháng đâu? (http://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20120319/hau-an-322---nhung-noi-buon-co-that/482521.html). Những bài báo như thế này rất nhiều và đã viết rất lâu rồi, nhưng bao nhiêu năm, có thay đổi đâu? Các lãnh đạo cứ bàn chuyện đổi mới, chuyện nâng cao chất lượng, nhưng một ngành nghề không đảm bảo cho người ta mức sống tối thiểu, thì đương nhiên họ phải đi làm thêm, phải dành thời gian để kiếm sống, nếu mạng sống không giữ được thì lấy gì để cống hiến? 
      Khi tôi sang Hàn, gặp một tình trạng trớ trêu hơn. Một PGS người Myanma, từng tu nghiệp tiến sĩ ở Đức, về nước, đồng lương không sống nổi (tương tự như nước ta), có cơ hội sang Hàn dạy tiếng Myanma, với mức lương tối thiểu là hơn 2000 usd 1 tháng, thế là người đó sẵn sàng bỏ việc ở nhà, đi dạy tiếng Myanma (tiếng mẹ đẻ) để kiếm tiền nuôi vợ con (Trong khi với việc dạy tiếng mẹ đẻ, họ không cần phải đi du học ở nước ngoài làm gì).
        Tu nghiệp nước ngoài về, cũng muốn nghiên cứu, nhưng nhà nước cắt giảm ngân sách dành cho nghiên cứu ở một số trường đại học, muốn làm đề tài cấp trường thì thường phải làm tự phí. 
         Có thể nói, giảng viên không còn hi vọng gì có thể sống được bằng lương, và cũng không hi vọng gì có thể sống được bằng thu nhập có được từ cơ quan mà mình công tác. Lương không đủ sống, nhà trường không tạo ra được việc làm để giảng viên tăng thu nhập, vậy giảng viên sống bằng cách nào? Phần lớn giảng viên phải làm các việc khác ngoài giảng dạy và nghiên cứu trong đơn vị công tác. Nếu bây giờ ai đó thực hiện phỏng vấn giảng viên các trường đại học, thì tôi cam đoan rằng, không phải 100% thì cũng 99% giảng viên trả lời là KHÔNG SỐNG BẰNG LƯƠNG. Thậm chí một số người còn tự hào khi nói rằng mình không cần trông chờ vào lương mà vẫn sống. Một ngày chỉ có 24h, chúng ta phần lớn đều là người bình thường, do đó, khi chúng ta làm việc này rồi thì sẽ cắt vào thời gian làm việc khác, đã bỏ thời gian đi kiếm tiền rồi thì sẽ cắt vào thời gian nghiên cứu, giảng dạy ở đơn vị. Một bài báo khoa học viết cả tháng trời, thậm chí mấy tháng, khi gửi đăng có khi phải mất tiền phản biện, nhưng hiệu quả nó mang đến cho người viết là gì? Nhiều người làm xong chức danh là ngừng viết bài. Trong khi một bài báo lá cải nhuận bút có thể lên tới 1-2 triệu. Có thể nói, phần lớn giảng viên phải lao đi làm các việc khác ngoài nghiên cứu và giảng dạy, để sống đã, vì nếu không còn sống thì làm được cái gì? Tiềm lực của các giảng viên đại học ở Việt Nam cũng rất lớn, nhưng rồi, theo năm tháng, họ phát hiện ra, nếu cứ lao vào nghiên cứu, khoa học sẽ lớn lên nhưng gia đình thì sẽ teo tóp, và buộc họ phải lựa chọn. Những ai yêu nghề thì đi theo phương châm "lấy ngắn nuôi dài", ai phẫn chí thì bỏ luôn "dài", tập trung vào kiếm ăn một cách đơn thuần. 
        Khi mà nghê giáo không còn sức hấp dẫn nữa, thì học sinh phổ thông sẽ không định hướng thi vào đại học sư phạm, chuyển sang thi các trường đào tạo ngành khác, lúc đó, ngành giáo dục sẽ thiếu giáo viên một cách trầm trọng. Khi người làm không đủ thì nói gì đến cải cách, đổi mới nâng cao chất lượng?
        
        Cho nên, tôi nghĩ, mọi cuộc cải cách hãy nên bắt đầu từ việc nâng cao đời sống của người lao động, nếu không, sẽ khó mà thành công. 





Bộ trưởng Giáo dục: Tôi day dứt vì thu nhập giáo viên thấp

 - “Dư luận đề cập vấn đề thu nhập của giáo viên thấp, đời sống giáo viên khó khăn. Đó là sự thật, cũng là món nợ mà người đứng đầu ngành như tôi cảm thấy day dứt...”, Bộ trưởng GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ chia sẻ bên hành lang QH sáng nay.
Theo Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, Bộ sẽ có lộ trình chuyển dần giáo viên biên chế sang hợp đồng. 
Thời gian qua đã bàn nhiều đến tự chủ giáo dục ĐH mà chưa đề cập sâu tới tự chủ đối với giáo dục phổ thông - đây là băn khoăn của ngành.
Bộ trưởng, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, Phùng Xuân Nhạ, Bộ GD-ĐT, thu nhập giáo viên, giáo viên biên chế, giáo viên hợp đồng
Bộ trưởng GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ 
Chính vì vậy, khi xây dựng nghị định tự chủ các đơn vị sự nghiệp công lập ngành giáo dục, Bộ GD-ĐT đã phải tách thành hai. 
Một nghị định cho giáo dục ĐH và một nghị định dành cho giáo dục phổ thông. Đối với các cơ sở giáo dục phổ thông chưa đề cập tới vấn đề tự chủ tài chính vì vấn đề này còn phải bàn thêm.
“Ở đây, tự chủ chính là phân cấp, phân quyền cho các cơ sở giáo dục, bao gồm tự chủ về nhiệm vụ và tự chủ về nhân sự” - Bộ trưởng nhấn mạnh.
Giữ chân giáo viên giỏi cần đãi ngộ lớn
Về tổ chức bộ máy và nhân sự - đây là vấn đề thiếu tự chủ nhất hiện nay ở các nhà trường. Các trường mới là nơi có nhu cầu tuyển dụng, biết rõ số lượng giáo viên thừa thiếu ra sao nhưng lại bị động trong khâu tuyển dụng giáo viên.
Việc tuyển dụng thường do UBND huyện hay do các sở đảm nhiệm theo kế hoạch biên chế chung, thậm chí tuyển gộp rồi phân về cho các trường, dẫn đến hiện tượng vênh về chuyên môn, thừa thiếu cục bộ, gây ra khó khăn cho các trường.
Còn về nhiệm vụ, các trường đã được phân quyền rồi nhưng thực tế sự chủ động vẫn chưa nhiều. Nếu như không phân cấp cho các trường mạnh hơn nữa thì vai trò chủ động của các nhà trường và tính linh hoạt của các thầy cô giáo chắc chắn sẽ mờ nhạt và khó tránh khỏi việc các cấp quản lý như sở, phòng sẽ can thiệp vào nhiệm vụ chuyên môn cũng như nhiều hoạt động khác của trường.
“Để nâng cao chất lượng giáo dục phải bắt đầu từ đội ngũ giáo viên, muốn thu hút và giữ chân được giáo viên giỏi cần có chế độ đãi ngộ lớn. Nếu chúng ta cứ giữ mãi định biên như hiện nay sẽ khó tạo ra được động lực cho những người tâm huyết và lâu dài khó tạo được “đột phá” cho quá trình đổi mới giáo dục” - Bộ trưởng chia sẻ. 
Vì vậy, đã tới lúc phải đẩy mạnh tiến trình cho các trường tự chủ trong việc tuyển dụng giáo viên, đánh giá cán bộ - tiến tới thí điểm chế độ hợp đồng lao động đối với giáo viên.
Vướng mắc có thể gỡ được
Bộ trưởng nhìn nhận, khi thực hiện chắc chắn sẽ có những vướng mắc, nhưng những vướng mắc đó có thể gỡ được...
“Lâu nay, dư luận vẫn đề cập tới vấn đề thu nhập của giáo viên thấp, đời sống giáo viên khó khăn. Đó là sự thật và cũng là món nợ mà người đứng đầu ngành như tôi cảm thấy day dứt khi chưa trả được” - Bộ trưởng chia sẻ.
Ông cũng lưu ý, sẽ rất khó có thể tạo ra sự thay đổi nếu cứ mãi bó buộc trong đồng lương công chức, viên chức.
Về lâu dài việc chuyển sang chế độ hợp đồng đối với giáo viên là cần thiết để từng bước cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng đội ngũ gắn liền với quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục.
“Đây là vấn đề có thể tác động đến hơn một triệu thầy cô giáo, vì vậy Bộ sẽ nghiên cứu kỹ, từng bước thí điểm để có lộ trình hài hòa chứ không phải cùng lúc toàn ngành chuyển từ công chức, viên chức sang chế độ hợp đồng” - Bộ trưởng cho biết.
Trước mắt, ngành làm thật tốt theo luật Viên chức. Sau đó từng bước có lộ trình thí điểm, phù hợp với tình hình của từng địa phương, không dùng hành chính để áp đặt. 
'Không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này'

'Không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này'

 40 ngàn tỷ đồng để cải cách tiền lương theo đúng lộ trình không tìm đâu ra được. Muốn có nguồn tăng lương cho cán bộ cần làm 2 việc: Tinh giản biên chế và tiết kiệm chi tiêu.
Lương, tiền, bộ máy...vòng luẩn quẩn gỡ được không?

Lương, tiền, bộ máy...vòng luẩn quẩn gỡ được không?

Cải cách lương, nhưng tiền đâu, mà bộ máy lớn thế này thì phải thu nhỏ lại đã, cán bộ, công chức đông thế này thì phải giảm đã, nếu không thì tiền thuế của dân cũng không nuôi nổi…
Người quyết cải cách lại không sống bằng lương

Người quyết cải cách lại không sống bằng lương

Viện trưởng Viện Kinh tế Trần Đình Thiên nhận xét: Những người có quyền quyết định cải cách triệt để chế độ tiền lương thì lại không sống bằng lương. Nên mới chỉ có những đợt cải tiến tiền lương chứ chưa có những cải cách thiết thân, sát sườn.
Singapore không để công chức dứt áo vì lương

Singapore không để công chức dứt áo vì lương

Bộ trưởng Nội vụ của Singapore từng nói: Chúng tôi không muốn lương là động lực duy nhất để níu kéo công chức, nhưng cũng không muốn lương là lý do để họ rời bỏ khu vực nhà nước.
'50% công chức ngồi bói chữ hơn là làm'

'50% công chức ngồi bói chữ hơn là làm'

Doanh nghiệp cho rằng, thừa 50% cán bộ, công chức vì "họ đi chơi rất nhiều, ngồi bói chữ nhiều hơn là làm".
Thu Hằng
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/quoc-hoi/bo-truong-toi-day-dut-vi-thu-nhap-giao-vien-thap-374728.html#inner-article
Xem tiếp…