DẤU ẤN THỊ THÀNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC 1945

10:14 |


                                                                            
I. MỞ ĐẦU
Đầu thế kỉ 20 khi va chạm với nền văn hóa phương Tây, thành thị ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ và để lại dấu ấn khá đậm nét trong sáng tác văn học giai đoạn này. Trong văn học Việt Nam vẫn chưa hình thành một dòng văn học thành thị thực sự, tức là chưa có một dòng văn học mà người viết về thành thị được sinh ra và lớn lên ở thành thị, với những trải nghiệm của người thành phố. Đa số nhà văn, nhà thơ Việt Nam viết về thành thị bằng trải nghiệm nông thôn, vì thế, thành thị chủ yếu hiện lên trong tư cách “kẻ khác” với không ít những thiên kiến.
Nhận định ngắn gọn của Hoài Thanh “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong lòng ta”[1] đã trở thành định hướng cho hầu hết nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính. “Nguyễn Bính – chân quê” đã trở thành định danh dành riêng cho ông và có lẽ vì thế mà ít người chú ý đến vấn đề thành thị trong thơ ông. Vấn đề thành thị chủ yếu được điểm qua khi nghiên cứu về “cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính”. Năm 2010 trên trang tienphong.vn Hoài Nam công bố bài Có một Nguyễn Bính thị thành đã điểm qua một số nét tâm trạng của nhân vật trữ tình trong thơ ông khi đối diện với thành phố, mang lại gợi mở quý báu cho nghiên cứu vấn đề thành thị trong thơ Nguyễn Bính.
Bài viết này hướng tới tìm hiểu những biểu hiện của thành thị trong cảm nhận của Nguyễn Bính, kiến giải vấn đề từ tiểu sử, gia đình nhà thơ, bối cảnh văn hóa xã hội truyền thống và đương thời.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
            Đầu thế kỉ 20, sự xâm nhập của văn hóa phương Tây theo bước chân thực dân đã thúc đẩy thành thị phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam. Sự hiện diện của thành phố mang tính hiện đại thời kì đó đã tác động nhiều chiều đến tâm lí người dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Có những người coi thành thị là chốn phồn hoa, văn minh, thanh lịch; có người lại thấy đó là chốn lai căng, tha hóa, cạm bẫy… Từ đó dẫn đến những phản ứng tâm lí khác nhau, có người dấn thân vào chốn phồn hoa, có người lại tìm về với miền yên ả, về những miền quê, hoài niệm “ngày xưa”. So với “nông thôn”, thành thị trong thơ Nguyễn Bính có tần số xuất hiện không nhiều, nhưng nó lại thể hiện rất rõ biến động của thời đại khắc in trong một bộ phận trí thức.
1. Thành thị - “Mộng huy hoàng”
            Mặc dù rất ít khi trực tiếp nói đến sức cám dỗ của thành thị, nhưng trong thơ ông, thành thị vẫn hiện lên với sức hấp dẫn ngấm ngầm. Nhân vật trữ tình trong thơ từng hăm hở bước vào không gian thị thành:  “Rồi men tráng lệ châu thành ấy/ Từ đấy in thêm một bóng người/ Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng/ Giầu lòng tin tưởng bước tương lai”(Lá thư về Bắc). Ở không gian đó có những gì khiến nhân vật trữ tình phải “Bỏ lại vườn cảm bỏ mái gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành”(Hoa với rượu)? Trong thơ Nguyễn Bính, thành thị chỉ được nhắc đến như một ý niệm rất mơ hồ: “Rộn những phồn hoa”(Lá thư về Bắc), “Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng”(Sao chẳng về đây). Thành thị gắn với giấc mơ thay đổi cuộc sống, dù nhà thơ chỉ thoảng nhắc đến: “Gia đình thiên cả lên thành thị/ Buôn bán loanh quanh bỏ cấy cày”(Giời mưa ở Huế). Đây là một chi tiết có thật trong cuộc đời Nguyễn Bính, nhưng nó phản ánh thực tế biến động ở Việt Nam khi thành thị phát triển mạnh mẽ, không ít người rời bỏ quê nhà tìm đến thành thị với ước mơ thay đổi cuộc sống, mà trước hết là cuộc sống vật chất. “Giấc mơ thành thị” đã trở thành giấc mơ phổ biến của những người ở nông thôn khi thành phố phát triển. Nó gắn với sự day dứt về cái nghèo hiện có và mơ ước giàu sang. Giấc mơ về sự giàu sang được gửi gắm kín đáo trong những câu chuyện tình yêu, hôn lễ, đón rước. Chẳng hạn như bài Quan trạng: “Quan Trạng đi bốn lọng vàng/Cờ thêu tám lá qua làng Trang Nghiêm/Mọi người hớn hở ra xem/Chỉ duy có một cô em chạnh buồn./Từ ngày cô chửa thành hôn,/Từ ngày anh khoá hãy còn hàn vi./Thế rồi vua mở khoa thi,/Thế rồi quan Trạng vinh quy qua làng”. Giấc mơ đó có nét giống với niềm day dứt: “Có những mâm cau phủ lụa điều/ Đi vào trong gió lạnh hiu hiu/ Những xe hoa cưới, sao mà đẹp!/ Cửa kính huy hoàng vạt áo thêu…./ Châu ngọc làm sao hái được nhiều/ Tôi là thi sĩ của thương yêu/ Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng/ Với những mâm cau phủ lụa điều”(Một trời quan tái). Nỗi niềm trong bài Quan trạng là nỗi niềm tiếc nuối của cô gái, còn nỗi niềm trong bài Một trời quan tái lại là nỗi niềm day dứt buồn bã bất lực của người con trai về sự nghèo túng của mình. “Phồn hoa” là ý niệm khá sâu đậm trong thơ Nguyễn Bính khi nói về thành thị, ý niệm này bắt nối với ý niệm về thành thị - kinh kì trong truyền thống, nó cũng là suy nghĩ của không ít người hồi đó. Thạch Lam cũng từng ghi lại ý niệm về chốn thành thị “lấp lánh ánh sáng và rộn rã âm thanh” khác với sự tù túng tĩnh lặng ở vùng quê (Hai đứa trẻ).
            Ấn tượng khá đậm của thành thị không chỉ với Nguyễn Bính mà với nhiều nhà văn thời đầu thế kỉ 20 là hình ảnh cô gái tân thời. Hình ảnh này trở thành biểu tượng cho sự đổi mới, đối lập với hình ảnh những cô gái truyền thống ở nông thôn. Phụ nữ tân thời nhàn nhã ngồi trên ghế xích đu đọc sách cũng từng là hình ảnh trong mơ của nhà văn Điền trong Giăng sáng của Nam Cao. Là “thi sĩ của thương yêu”, Nguyễn Bính cũng dành không ít sự quan tâm đến hình ảnh từng trở thành trung tâm diễn ngôn về đấu tranh giữa cũ và mới, diễn ngôn giải phóng phụ nữ đương thời. Trong bài Chân quê, sức cám dỗ, sức hấp dẫn của thị thành, của cái mới, của “tân thời” được hiện hình rõ nét “Hôm qua em đi tỉnh về/ Đợi em ở mãi con đê đầu làng/ Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/ Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi”. Cô gái đã đổi thay ít nhất là trong cách ăn mặc khi từ thành thị trở về, cho thấy sức cám dỗ không nhỏ của thành thị đối với họ. Thiếu nữ tân thời từng là hình ảnh đẹp, hình ảnh trong mơ của nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính đã trực tiếp khắc họa nét đẹp “tân thời” của thiếu nữ kinh thành Huế: “Những nàng thiếu nữ sông Hương/ Da thơm là phấn môi hường là son/ Tựu trường san sát chân thon/ Lao xao nón mới màu sơn sáng ngời/ Gió thu cứ mãi trêu ngươi/ Đôi thân áo mỏng tơi bời bay lên/ Dịu dàng đôi ngón tay tiên/Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường” (Tựu trường). Bài thơ thiên sang miêu tả từ làn da, nét môi, chân thon, ngón tay với son, với áo, với nón và cử chỉ “giữ hờ mép áo”. Thiên sang đặc tả cũng chính là nhấn mạnh sự quan sát, sự cảm nhận của nhân vật trữ tình. Với “thi sĩ của thương yêu” dường như hình ảnh cô gái tân thời là trung tâm của thành thị:  “Cả kinh thành có những ai?/Cả kinh thành có một người mắt nhung!…../Đêm qua buồn quá tôi say/ Đã mơ một giấc mơ đầy mắt nhung!” (Mắt nhung). Trên các phương tiện truyền thông hiện nay, hình ảnh những cô gái xinh đẹp cũng được khắc họa như là biểu tượng cho sự hấp dẫn của thành phố[2].
            Có thể thấy “phồn hoa” dường như là một ý niệm xuất hiện trong tâm thức của con người ngay từ khi thành thị ra đời. Và khi “thành thị” trở thành không gian đối lập với “nông thôn” thì ước mơ thay đổi không gian từ nông thôn lên thành thị chưa bao giờ vơi cạn. Chuyện những trí thức nghèo muốn bước chân vào giới thượng lưu thành thị ở phương Tây thế kỉ 19; chuyện những người như anh giáo Thứ trong Sống mòn của Nam Cao muốn tìm cuộc sống mới ở thành thị; hay ở Trung Quốc hình thành cả một “trào lưu” “Bắc phiêu” – những người ở nơi khác đến thủ đô Bắc Kinh mưu sinh… là minh chứng rất rõ cho sức cám dỗ của thành thị. Ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ 20, thành thị hiện đại xuất hiện và phát triển nhanh khiến không ít người muốn tìm đến thị thành với giấc “mộng phồn hoa”, và cũng chính giấc mộng đó đã kéo theo không ít hệ lụy tinh thần khi va đập với thực tế. Mọi người đều chung một giấc mộng phồn hoa, nhưng những hệ quả của sự va đập với thực tế in hằn trong tâm tư mỗi người thì có thể lại rất khác nhau. Với cá nhân mỗi người cũng vậy, giấc mộng đó chỉ có một nhưng những chấn động, những day dứt trong sự va đập với hiện thực thị thành lại rất đa dạng. Có lẽ vì thế mà khi viết về thành thị, Nguyễn Bính dành nhiều trang viết về sự va chạm với thực tế chốn đô thành.              
2. Thành thị - chốn lưu lạc
            Trong thơ Nguyễn Bính in hằn một mâu thuẫn lớn, đó là nhân vật trữ tình từng hăm hở bước vào chốn phồn hoa; nhưng lại không thể thích ứng được với nơi ấy, lúc nào cũng cảm giác nơi ấy không thuộc về mình; tuy cảm nhận nơi ấy không thuộc về mình nhưng vẫn không rời nơi ấy được. Chính vì thế, những trang thơ viết về thành thị của Nguyễn Bính hầu hết là những trang đượm buồn, nhuốm đầy biệt li tang tóc, đầy cảm giác lạc loài.
Đến nay, hình ảnh con tàu và sân ga không còn xa lạ với chúng ta, nhưng những năm đầu thế kỉ 20, khi lần đầu tiên đường tàu được xây dựng ở Việt Nam, thì con tàu và sân ga lại hiện diện như một sự kiện lớn, trở thành thứ làm thay đổi, nếu không muốn nói là làm đảo lộn cuộc sống vốn ở trạng thái tĩnh ở các vùng nông thôn. Dù đây không phải là biểu tượng của thành thị, nhưng nó gắn với văn minh hiện dại, là phương tiện giao nối giữa các vùng miền, trong đó có giao nối giữa nông thôn và thành thị. Không phải ngẫu nhiên mà Thạch Lam chú trọng khắc họa tâm trạng mong ngóng chuyến tàu đêm kết nối vùng quê tăm tối với Hà Nội “lấp lánh ánh sáng và rộn rã âm thanh”. Nguyễn Bính đã tập trung khắc họa sân ga gắn với các cuộc chia lìa, chia lìa giữa những người bạn, giữa vợ và chồng, giữa những người yêu nhau, giữa mẹ và con, giữa một người với quê hương gia đình mình: “Những cuộc chia lìa khởi tự đây/Cây đàn sum họp đứt từng dây/Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc/Lần lượt theo nhau suốt tối ngày” (Những bóng người trên sân ga). Trong chuỗi những cuộc ra đi đó, có không ít người hướng tới thành thị.
            Mang theo “mộng phồn hoa”, nhưng khi đến chỉ thấy sự ngột ngạt: “Hà Nội cơ hồ loạn tiếng ve/ Nắng dâng làm lụt cả trưa hè” (Nhớ người trong nắng); ở đó chỉ có bụi bặm đa đoan: “Hồn cô cát bụi kinh thành/ Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe”(Tình tôi); ở đó chỉ có sự tàn phai: “Lá úa kinh thành rơi ngập đất” (Một trời quan tái); ở đó không có mùa xuân: “Giữa nơi thành thị gió mưa phai/ Chết dần từng nấc, rồi mai mốt/ Chết cả mùa xuất, chết cả đời/…/ Kinh kì bụi quá xuân không đến” (Sao chẳng về đây); ở đó tràn ngập màu tang tóc: “Tôi thấy quanh tôi và tất cả/ Kinh thành Hà Nội chít khăn xô”(Viếng hồn trinh nữ). Nhân vật trữ tình không tìm thấy niềm vui, không tìm thấy sự sẻ chia, không tìm sự bình yên trong tâm hồn khi ở thành thị. Thành thị “phồn hoa” còn luôn nhắc nhở những người tìm cơ hội nơi thành thị về thân phận “tha hương” của mình: “Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,/Đêm đêm quán trọ thức thi đèn/Làm thơ mang bán cho thiên hạ,/Thiên hạ đem thơ đọ với tiền”. Bước từ truyền thống thơ văn là thú chơi thanh cao, viết để tặng nhau, để thù tác sang thời kì thơ văn trở thành một loại hàng hóa, các nhà thơ khó có thể thích ứng ngay được. Đó là sự chuyển đổi lớn trong xã hội, cũng là cú sốc tinh thần của văn sĩ. Chuyện cơm áo gạo tiền trở thành nỗi ám ảnh của không ít văn sĩ thời bấy giờ. Xuân Diệu từng viết: “Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt,/Cơm áo không đùa với khách thơ”, các nhân vật văn sĩ trong sáng tác của Nam Cao cũng cay đắng với chuyện áo cơm (Đời thừa, Giang sáng, Sống mòn). Cho nên, thành thị phồn hoa lại trở thành thứ gợi nhắc nỗi ám ảnh, sự tự ti trong những người ôm “mộng phồn hoa”: “Châu ngọc làm sao hái được nhiều/ Tôi là thi sĩ của thương yêu/ Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng/ Với những mâm cau phủ lụa điều” (Một trời quan tái).
3. Tìm về nông thôn
            Trong thơ Nguyễn Bính, tâm lí tìm về nông thôn như một hệ quả tất yếu khi vỡ “mộng phồn hoa”, “sực tỉnh sầu đô thi”. Theo lẽ thông thường, người ta chỉ khao khát những gì hiện tại mình không có. Khi ở nông thôn thì mơ về phồn hoa, khi ở chốn phồn hoa thấy thiếu vắng nhiều thứ quan trọng cho đời sống tinh thần của mình thì luôn khao khát tìm về. Trong văn học Việt Nam, phần lớn các nhà văn nhìn thành thị bằng trải nghiệm nông thôn, vì thế, thành thị trở thành “kẻ khác”, ý niệm về thành thị là “ý niệm về kẻ khác”. Những gì không thể chấp nhận được ở “kẻ khác” đều do họ lấy thước đo từ trải nghiệm nông thôn của mình. Vì thế, trong thơ Nguyễn Bính, khi “sực tỉnh sầu đô thị”, khi cảm thấy bơ vơ lạc loài ở chốn thành thị thì nhân vật trữ tình thường tiếc nuối, dằn vặt vì đã bỏ lại quê nhà những điều quý giá mà họ không thể tìm thấy ở thị thành. Điều nhân vật trữ tình thèm khát nhất trong chốn bơ vơ là thèm khát tình người, trước hết là tình cảm gia đình, sự sẻ chia an ủi. Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính luôn dằn vặt day dứt, tự trách bản thân vì đã “Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh. Tôi đi dan díu với kinh thành” (Hoa với rượu); “Không còn ai nữa? để hoa đầy vườn” (Anh về quê cũ). Bỏ lại tất cả như vậy để dấn thân vào chốn thị thành, nhưng cái thu được chỉ là “Lẽo đẽo đi trong gió bụi đời/ Gian nan vất vả quá anh ơi/ Lắm khi thấy thiếu lời an ủi/ Nhưng kiếm đâu ra dẫu một lời” (Lá thư về Bắc). Thấy thiếu trong hiện tại thị thành và mơ về ngày xưa nông thôn chính là đã lấy những trải nghiệm ở nông thôn làm tiêu chuẩn, và cũng do lấy những trải nghiệm đó làm tiêu chuẩn nên mới không thể hòa nhập được với chốn thị thành. Lấy chuẩn về không gian sống thoáng đãng yên ả nên mới thấy thành thị ngột ngạt “loạn tiếng ve”; lấy chuẩn về không gian sống trong lành hòa với thiên nhiên nên mới không thể thích ứng được với thành thị “cát bụi”; lấy chuẩn là cuộc sống chan hòa tình cảm nên thấy lẻ loi chốn thị thành… Nguyễn Bính viết nhiều bài thơ day dứt về thân lưu lạc muốn trở về với gia đình, quê hương, với nông thôn, nơi ấy có những thứ đã lắng đọng trong tâm hồn, kí ức, tiềm thức. Bài thơ Sao chẳng về đây đã khắc họa sâu đậm nỗi day dứt tìm về đó: “Sao chẳng về đây múc nước sông/ Tới cho những luống có hoa trồng/ Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở/ Phô nhụy vàng hây với cánh nhung” .
            Có thể nói, Nguyễn Bính viết về thành thị từ điểm nhìn nông thôn và viết về nông thôn sau khi đã dấn thân vào thành thị nhưng không tìm được sự hòa hợp. Nếu chỉ gắn Nguyễn Bính với “chân quê” thì chưa đủ, và nếu nói “ông như người lái đò qua lại giữa hai bờ nông thôn và thành thị” cũng chưa lột tả hết được vấn đề ám ảnh nhất trong thơ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính có thực sự chối bỏ cái mới như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét khi phân tích bài thơ Chân quê không? Nhiều người khẳng định Nguyễn Bính muốn giữ nét “chân quê” căn cứ vào câu: “Nào dâu cái yếm lụa sồi/ Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?/ Nào dâu cái áo tứ thân/ Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? Nói ra sợ mất lòng em/ Van em em hãy giữ nguyên quê mùa”. Thực ra Nguyễn Bính không kì thị với những thứ “tân thời”. Điều mà bài Chân quê muốn chối bỏ là sự không phù hợp, không hòa hợp chứ không phải dấu ấn thị thành nhuốm trên cô gái. Điều mà nhân vật trữ tình trong bài thơ đó theo đuổi là “Hoa chanh nở giữa vườn chanh”. Cô gái đi tỉnh về mang theo hơi hướng thị thành đã không còn là “hoa chanh nở giữa vườn chanh” nữa, “khăn nhung quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm”  không phù hợp với không gian “con đê đầu làng”, không phù hợp với hoàn cảnh “thầy u mình với chúng mình chân quê”, và rất có thể, nhân vật trữ tình cảm thấy mình không theo kịp sự đổi mới đó nên muốn kéo cô gái trở về với “áo lụa sồi, khăn mỏ quạ”.
III. KẾT LUẬN
            Trong thơ Nguyễn Bính có một con người xuất phát từ nông thôn hăm hở bước vào không gian thành thị với giấc “mộng phồn hoa” nhưng cuối cùng lại luôn khắc khoải nhớ về nơi mình đã rời xa, khắc khoải muốn trở về nhưng chỉ là trở về trong tâm tưởng. Thành thị có sức cám dỗ mãnh liệt đối với mọi người, nhưng riêng với tầng lớp văn nghệ sĩ, đặc biệt là những người có trải nghiệm nông thôn sâu sắc thì thành thị luôn là nơi họ có thể đặt chân đến nhưng không thể hòa hợp. Mảng thơ “chân quê” của Nguyễn Bính có lẽ cũng nên tiếp cận từ trạng thái tâm lí đó để thấy nó như là một điểm tựa tâm lí, một sự kháng cự trước những gì mà thành thị gây ra.
                                                                                                            
                                                                                                Dương Nội, tháng 5 năm 2018
                                                                                                            Đỗ Văn Hiểu
Nguồn: Tạp chí Lí luận phê bình văn học nghệ thuật, số 6 - 2018, tr 67-71
  (Ảnh:  https://news.zing.vn ) 
Tài liệu tham khảo:
  1. Vũ Quốc Ái…(sưu tầm, tuyển chọn): Tuyển tập Nguyễn Bính. Nxb Văn học, 1986
  2. Nguyễn Bính: Xuân tha hương. Sở văn hóa- thông tin Hà Nam Ninh, 1989
  3. Nguyễn Bính: Hương cố nhân, Nxb Văn nghệ tp Hồ Chí Minh, 1999
  4. Nguyễn Bính: Tâm hồn tôi. Nxb Hội nhà văn, 2016
  5. Hoài Nam: Có một Nguyễn Bính thị thành , tienphong.vn, 2010
  6. Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. Nxb Văn học, 2000





[1] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, 2000, tr343
[2] Xin xem: Đoàn Quốc Minh: Sức cám dỗ của nữ tính và văn hóa đại chúng, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, 2008 (Bản tiếng Trung)

Xem tiếp…

Thị trường hóa văn học Trung Quốc

06:19 |

                               Đỗ Văn Hiểu (*)
Tóm tắt:
            Cùng với sự hình thành phát triển của kinh tế thị trường, những năm 90 văn học Trung Quốc đã diễn ra quá trình thị trường hóa một cách mạnh mẽ. Trong khuôn khổ bài viết này, người viết hướng tới giới thiệu bối cảnh dẫn tới hiện tượng thị trường hóa văn học, đồng thời chỉ ra những chuyển biến của đời sống văn học Trung Quốc trong quá trình thị trường hóa, từ vấn đề đội ngũ nhà văn, thực tiễn sáng tác, xuất bản, truyền bá và tiêu thụ, từ đó chỉ ra thị trường hóa là con đường tất yếu của văn học trong bối cảnh văn hóa mới.
Từ khóa: Thị trường hóa văn học, Kinh tế thị trường, Văn học Trung Quốc
  1. Mở đầu
            Từ những năm 90 của thế kỉ trước, thị trường hóa văn học Trung Quốc diễn ra mạnh mẽ. Khi hiện tượng này mới diễn ra, có không ít ý kiến trái chiều, nhưng dù khen hay chê, phê bình hay ủng hộ, hưởng ứng hay thờ ơ, thì hiện tượng này vẫn tồn tại và không ngừng phát triển. Năm 1997 Lí Hân Phúc, Quách Nhuệ đã khẳng định: “Văn học thị trường là chạy theo nhu cầu thị trường, thông qua phương thức vận hành thị trường tiến hành sáng tác và xuất bản, phục vụ nhu cầu văn hóa công chúng thị trường, có số lượng độc giả lớn, sẽ trở thành chủ lực của văn học trong tương lai”[1]. Quá trình thị trường hóa ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống văn học, từ vấn đề đội ngũ nhà văn, hoạt động sáng tác, xuất bản, truyền bá và tiêu thụ.
  1. Nội dung
  2. Cơ sở kinh tế văn hóa
            Thị trường hóa văn học gắn liền với sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường. Từ năm 1978 Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, với hàng loạt chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, trong đó quan trọng nhất là đã thúc đẩy sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch sang mô hình kinh tế thị trường. Về cơ bản, đến những năm 90 của thể kỉ 20, Trung Quốc đã hoàn tất bước chuyển đổi này. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ xã hội, trong đó có hệ thống văn hóa. Quan hệ thị trường, ý thức hàng hóa trở thành vấn đề nổi bật trong cục diện văn hóa Trung Quốc thời bấy giờ, các đơn vị quản lí văn hóa, hoạt động văn hóa nói chung đã có những chuyển biến lớn. Từ năm 1949, các đơn vị quản lí văn hóa được coi là đơn vị sự nghiệp, hoạt động dưới sự chỉ đạo về tư tưởng đường lối và được bảo trợ về nguồn kinh phí. Nhà nước quản lí những người làm công tác văn hóa văn học nghệ thuật thông qua các hiệp hội văn học nghệ thuật. Thế nhưng, bắt đầu từ năm 1988, khái niệm “thị trường văn hóa” lần đầu tiên được Liên hiện tổng cục công thương quốc gia Trung Quốc sử dụng, từ đó thị trường văn hóa dần dần được mở rộng. Thể chế văn hóa được đổi mới, các cơ quan xuất bản, báo chí, truyền hình bắt dầu thực hiện mô hình “đơn vị sự nghiệp, quản lí doanh nghiệp”. Năm 1992 Quốc vụ viện Trung Quốc đã chính thức xếp sự nghiệp văn hóa vào sản nghiệp thứ ba bên cạnh sản nghiệp thứ nhất (nông nghiệp), sản nghiệp thứ hai (công nghiệp, xây dựng), cho phép các đơn vị này huy động nguồn vốn ngoài xã hội và phát huy vai trò điều tiết của thị trường. Năm 2000, trong văn bản chính thức của trung ương đã nhắc tới khái niệm “sản nghiệp văn hóa”, thúc đẩy hoàn thiện xây dựng, quản lí giám sát thị trường văn hóa. Đây là những cơ sở quan trọng thúc dẩy sản xuất văn hóa tinh thần hướng tới thị trường hóa tham gia vào quá trình cạnh tranh lành mạnh thu được lợi ích kinh tế. Sang thế kỉ mới, Trung Quốc triển khai mạnh mẽ chủ trương “văn hóa hóa kinh tế, kinh tế hóa văn hóa”.
            Ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến quá trình thị trường hóa văn học Trung Quốc chính là sự thay đổi vai trò và phương thức hoạt động của nhà xuất bản, tạp chí. Trước kia, đặc biệt là từ khi thành lập Cục quản lí sự nghiệp xuất bản quốc gia (1973), nhà xuất bản là đơn vị chuyên phụ trách xuất bản, mang tính phi lợi nhuận, chỉ làm nhiệm vụ lựa chọn nội dung và đối tượng xuất bản sao cho phù hợp với đường lối chính sách văn hóa của nhà nước, phát huy chức năng tuyên truyền phục vụ chính trị của văn học. Nhà xuất bản không quan tâm đến vấn đề tiêu thụ, việc tiêu thụ do Tân Hoa thư điếm đảm nhiệm. Bắt đầu từ năm 1980 đã có những động thái phá vỡ mô hình sản xuất đơn thuần của nhà xuất bản, hướng tới mô hình sản xuất kinh doanh. Năm 1984, Quốc vụ viện đã ra thông báo các tạp chí và nhà xuất bản phải tự lo thu chi. Đến năm 1988, thể chế phát hành được cải cách, cho phép các nhà sách tư nhân tham gia phát hành, phá vỡ thế độc quyền phát hành của Tân Hoa thư điếm, mang lại nhiều không gian cho các nhà sách phát triển. Trong bước chuyển đổi này, nhà xuất bản chuyển từ được nhà nước cung cấp kinh phí hoạt động sang tự thu tự chi, chính vì vậy, nhà xuất bản buộc phải quan tâm đến vấn đề hiệu quả kinh tế. Đây vừa là thách thức vừa là cơ hội đối với các nhà xuất bản, họ sẽ phải thâm nhập vào thị trường, quan tâm đến thị hiếu độc giả, liên kết với nhà văn, quan tâm đến vấn đề phát hành…
            Tình hình hoạt động của các tạp chí cũng có sự biến động rõ rệt. Trước kia, tạp chí chuyên đăng tải sáng tác văn học của Hội Nhà văn như Tạp chí thơ, tạp chí Văn học nhân dân… là tạp chí mang tính quyền uy. Nhưng khi chính sách văn nghệ thay đổi, nhà nước giảm cung cấp kinh phí hoạt động cho các tạp chí này, thì lượng phát hành của nó giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó những tạp chí khác như tạp chí Độc giả, Gia đình thường đăng tải những bài viết có nội dung gắn với đời sống hằng ngày, với thị hiếu bình dân lại phát triển, lượng phát hành mỗi kì có lúc lên tới 200 vạn đến 300 vạn.
            Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng như băng đĩa, truyền hình, và sau này là internet, cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình thị trường hóa văn học. Các yếu tố văn hóa từ hải ngoại, Hong Kong, Đài Loan với những thành công như tiểu thuyết Kim Dung, Quỳnh Dao, ca khúc Đặng Lệ Quân, và cả những thành công trong quá khứ như sự thành công của tiểu thuyết phái Uyên ương hồ điệp những năm 1912-1927, văn học đô thị Thượng Hải những năm 30, 40… đã có vai trò không nhỏ trong việc cổ vũ các nhà văn có thêm dũng khí tham gia vào quá trình thị trường hóa văn học.  
  1. Sự xuất hiện của các nhà văn tự do
            Khi kinh tế thị trường ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội, các nhà văn Trung Quốc đã có sự phân hóa rõ rệt. Có những nhà văn vẫn tiếp tục ăn lương nhà nước, có nhà văn gác bút đi buôn, và cũng có không ít những nhà văn rời bỏ tổ chức hiệp hội để trở thành người sáng tác tự do. Sự xuất hiện của đội ngũ nhà văn sáng tác tự do này đã góp phần vào quá trình thị trường hóa văn học.
            Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập (1949), Đảng cộng sản Trung Quốc tiến hành quản lí nhà văn thông qua các tổ chức, hiệp hội. Nhà văn trở thành công chức, hưởng lương và các phúc lợi khác, nhưng phải phục tùng sự lãnh đạo của tổ chức, sáng tác phải phù hợp với tư tưởng văn nghệ của Đảng, sáng tác được coi như một nhiệm vụ mà nhà văn phải hoàn thành. Thế nhưng, đến những năm 90, khi kinh tế thị trường đã được xác lập, các chính sách quản lí văn hóa thay đổi đem đến nhiều cơ hội phát triển cho nhà văn thì đã xuất hiện hiện tượng nhà văn rời bỏ tổ chức, trở thành người sáng tác tự do, sống nhờ ngòi bút của mình. Lịch sử văn học ghi nhận sự kiện những nhà văn trẻ như Chu Văn, Hàn Đông, Lỗ Dương đã bỏ công chức vào năm 1998. Sau khi rời bỏ tổ chức, họ đã tự làm một cuộc điều tra và phát hiện ra cách quản lí của các hiệp hội, sự tồn tại của các tạp chí quyền uy đã gò bó, khống chế và làm dị hóa nhà văn, chỉ có phá vỡ điều đó mới có thể có được tự do, độc lập trong sáng tác. Từ đó, có không ít nhà văn rời bỏ hội nhà văn tìm con đường phát triển riêng. Nhà văn Lý Nhuệ đã từ chối đến Sơn Tây đảm nhiệm chức phó chủ tịch hội nhà văn tỉnh, đồng thời rút khỏi Hội nhà văn Trung Quốc. Rời khỏi hội nhà văn, không ăn lương nhà nước, nhà văn sống dựa vào ngòi bút của mình, trở thành người lao động như bao người lao động khác. Để sống, họ phải quan tâm đến việc chuyển sản phẩm tinh thần của mình trở thành hàng hóa, quan tâm đến việc tiêu thụ sản phẩm và vấn đề lợi nhuận, vì thế, nhà văn sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến việc thỏa mãn nhu cầu của công chúng. Sẽ rất bi kịch nếu hàng hóa sản xuất ra không có người mua, không có người mua thì người sản xuất không có lợi nhuận để duy trì sự sống và sự sản xuất của mình. Rời bỏ tổ chức mang lại cho nhà văn không gian tự do để sáng tác, thoát khỏi sự ràng buộc bởi tổ chức, thì họ lại chịu sự chi phối của quy luật thị trường, phải lo lắng trước sự biến động của tình hình kinh tế. Nhà văn đã tham gia mở công ty, doanh nghiệp, theo đuổi kinh doanh, trở thành văn nhân kinh tế. Ngay từ năm 1983 Vương Sóc đã trở thành nhà văn ngoài thể chế, viết để mưu sinh. Tạp chí Sơn Hoa năm 1999 có cả một chuyên mục về người sáng tác tự do, giới thiệu, cập nhật tình hình sáng tác cũng như đời sống của những của những nhà văn tự do, như một sự cổ vũ cho sự mở rộng đội ngũ này. Triệu Khoa Ấn từng nói: “Ý nghĩa của việc thị trường hóa văn học những năm 90 không ở việc nó sáng tạo ra bao nhiêu tác phẩm lớn gây chú ý, mà ở chỗ nó phá vỡ bá quyền diễn ngôn nhà văn lấy lí luận giáo hóa văn học làm cơ sở được hình thành từ thời tiên Tần lưỡng Hán, và xây dựng cơ sở thực tiễn cho hệ thống diễn ngôn văn học dân chủ”[2].
            Các nhà văn phải đặc biệt chú ý đến sự tiếp nhận của độc giả. Kinh tế thị trường phát triển, văn hóa đại chúng bùng nổ, đời sống vật chất và tinh thần của con người thay đổi mạnh mẽ, nhu cầu của người đọc cũng phân hóa đa dạng. Bên cạnh người đọc có trình độ nghệ thuật cao, đòi hỏi tác phẩm có những giá trị thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật và triết lí sâu sắc, thì phần đông công chúng độc giả tìm đến văn học như một kênh giải trí. “Nhu cầu của người đọc cũng chuyển từ đi tìm chính nghĩa và kí thác tinh thần nhân sinh, chuyển sang nhu cầu đọc thông thường, đọc là tìm khoái cảm thẩm mĩ và sự vui vẻ thoải mái chứ không phải là vật vã tìm kiếm ý nghĩa nhân sinh” [3].
  1. Sản xuất văn học hướng tới tiêu thụ
            Trong quá trình thị trường hóa văn học, thuật ngữ “sản xuất văn học” dường như phù hợp hơn thuật ngữ “sáng tác văn học”, bởi vì, tác phẩm văn học ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà văn và nhà xuất bản, với những chiến lược xuất bản được hoạch định hết sức chi tiết, cẩn thận, căn cứ trên điều tra thị hiếu người đọc. Nhà xuất bản Văn nghệ Xuân Phong khi lên kế hoạch cho ra đời “Bố lão hổ tùng thư” đã xác định rất rõ ràng là nhắm đến đối tượng độc giả là nữ giới đã qua đại học, làm việc ở công ti, công sở, thu nhập từ 1500 tệ trở lên, tuổi từ 25 đến 45. Hoặc khi thúc đẩy sáng tác của nhà văn thế hệ 8x, nhà xuất bản đã hoạch định rất rõ độc giả là người cùng thời với nhà văn. Để có thể tiêu thụ sản phẩm văn học, sản xuất văn học phải thỏa mãn tâm lí, thị thu hút sự chú ý của độc giả.
            Mục đích của thị trường hóa văn học là để văn học vận hành theo quy luật thị trường hướng tới mục đích cuối cùng là tiêu thụ được sản phẩm văn học. Trong quá trình thị trường hóa, văn học Trung Quốc đã có một số cách thức thúc đẩy tiêu thụ văn học. Biểu hiện rõ nhất là việc khai thác các đề tài chủ đề thỏa mãn nhu cầu của độc giả đương thời. Trước hết là nhu cầu giải phóng đời sống tình dục. Và một bộ phận nhà văn đã chọn vấn đề này như một cách hữu hiệu mở rộng khả năng tiêu thụ sản phẩm do mình viết ra. Dưới danh nghĩa giải phóng đời sống tình dục, giải phóng nhân tính, giải phóng thân thể, không ít nhà văn đã miêu tả tình dục một cách thái quá, lộ liễu. Trong miêu tả của họ, tình yêu không còn là sự hòa hợp lí tưởng của hai tâm hồn, tình dục không còn là hệ quả tự nhiên của tình yêu hoàn mĩ. Chuyển hướng viết về đời sống tình dục như là một dấu hiệu hết sức rõ ràng của quá trình thị trường hóa văn học trên phương diện nội dung sáng tác. Tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng của quá trình chuyển đổi này là Phế đô của Giả Bình Ao và Bạch lộc nguyên của Trần Trung Thực. Hai tác phẩm này có lượng trang sách miêu tả tình dục khá lớn, gây xôn xao văn đàn. Phế đô của Giả Bình Ao gây nhiều tranh cãi, và có không ít những lời phê bình gay gắt hướng vào việc tác phẩm miêu tả tình dục thái quá, đến mức có lúc tác phẩm này bị cấm phát hành. Tuy nhiên, lượng phát hành của tiểu thuyết này rất lớn. Phế đô in lần đầu 500 nghìn bản, sau đó công khai xuất bản và bán xuất bản hơn 1 triệu bản, nghe nói bị in lậu 12 triệu bản[4]. Nhiều nhà phê bình Trung Quốc đã coi Phê đô như là một dấu mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi của văn học Trung Quốc theo hướng thị trường hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những tác phẩm viết về đời sống tình dục mà vẫn đảm bảo được giá trị văn học, thì cũng có không ít tác phẩm viết về đời sống tình dục chủ yếu nhằm mục đích tiêu thụ sách. Chẳng hạn như Bảo bối Thượng Hải của Vệ Tuệ thể hiện nội dung tình dục không lành mạnh. Cuốn sách cuối cùng bị cấm, “Bố lão hổ tùng thư” tổ chức xuất bản tiểu thuyết này cũng bị dừng phát triển và người sáng lập ra nó phải từ chức. Mặc dù một thời từng bị cấm, nhưng Phế đô có sức sống lâu bền hơn Bảo bối Thượng Hải, bởi người đọc nhận ra ở tác phẩm có nội dung triết lí sâu xa, là tác phẩm thuộc chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Có thể thấy, viết về đời sống tình dục là con dao hai lưỡi, nếu không cẩn thận sẽ khiến tác phẩm trở thành dễ dãi, thô tục. Chỉ cần viết về tình dục không quá thô thiển, không quá lộ liễu thì sách sẽ rất được chào đón. Cho nên, đã có những nhà văn điều tiết phương thức tự sự và nội dung tự sự để thỏa mãn nhu cầu của người đọc về một tình yêu hoàn mĩ, chẳng hạn như Hành lang tình ái của Trương Kháng Kháng.
            Bên cạnh đề tài tình yêu, tình dục, để thu hút người đọc trong quá trình thị trường hóa văn học, nhà văn có thể sử dụng đề tài lịch sử - một loại đề tài từng được xếp vào “kinh điển đỏ” trong giai đoạn trước, có điều, nhà văn phải điều chỉnh lối viết và gia giảm những yếu tố khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của độc giả đương thời. Cùng viết về đề tài lịch sử, nhưng những tác phẩm thời kì trước như Bảo vệ Diên An của Đỗ Bằng Trình, Bài ca thanh xuân của Dương Mạt, Lý Tự Thành của Diêu Tuyết Ngần… lại thiên sang đảm bảo độ chân thực lịch sử. Sang những năm 90, để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của độc giả đương thời, những tác phẩm về đề tài lịch sử như Bạch lộc nguyên của Trần Trung Thực, Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, Các đế vương nhà Thanh của Nhị Nguyệt Hà… đã sử dụng một phong cách viết mới. Các nhà văn sử dụng lập trường bình dân hóa, sử dụng kinh nghiệm cá nhân, mở rộng phát triển các chi tiết mang tính giải trí, kích thích cảm quan người đọc. Lịch sử xuất hiện trong không gian của đời sống thường nhật, trong tập tục dân gian, trong gia đình, dòng tộc, hoặc nhà văn dùng tư duy hiện đại, tình tiết li kì hấp dẫn, lập trường dân gian, ngôn ngữ hiện đại để diễn giải về lịch sử. Chính vì thế, đã tạo nên những đột phá trong quy ước về chân thực lịch sử và chân thực nghệ thuật. Phần đông công chúng có tâm lí hiếu kì, do đó, khi viết về đề tài lịch sử, các nhà văn đã chen lẫn yếu tố thực với yếu tố ảo, sử dụng nhiều chi tiết li kì hấp dẫn và những mô tip tình yêu mang tính phá cách. Đây cũng là nhân tố thành công cho hàng loạt các tác phẩm bán chạy của Nhị Nguyệt Hà như Khang Hi đại đế, Càn Long hoàng đế, Ung Chính Hoàng đế. Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử của Nhị Nguyệt Hà đã làm phong phú thêm mô hình tự sự của tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc. Tham gia vào quá trình thị trường hóa văn học, tác phẩm kiểu như vậy vẫn có lượng tiêu thụ lớn, nhưng không hề là tác phẩm dễ dãi.
            Hiện tượng văn học 8x cũng thể hiện rất rõ việc đáp ứng nhu cầu của người đọc trong quá trình tham gia vào thị trường của văn học. Thế hệ 8x ở Trung Quốc chịu áp lực từ việc muốn con trở thành rồng thành phượng của bố mẹ, áp lực của việc học quá tải, áp lực của các kì thi, khiến họ cảm thấy mệt mỏi, tù túng. Tam trùng môn của Hàn Hàn có được sự đồng cảm của độc giả 8x khi chỉ ra ba vòng kiềm tỏa đặt lên mỗi học sinh: gia đình, nhà trường, xã hội. Nhân vật trong tác phẩm đã phản ứng một cách tiêu cực bằng cách bỏ đi nhằm giải tỏa áp lực đó. Ở một chừng mực nhất định “Búp bê Bắc Kinh” của Xuân Thụ, “Ảo thành” của Quách Kiến Minh, “Hồng X” của Lý Sỏa Sỏa… đều thể hiện sự phản kháng đối với thế giới. Lớp độc giả 8x này luôn tìm thấy được sự đồng cảm khi đọc những tác phẩm viết về áp lực và sự phản kháng của những nhà văn cùng trang lứa.
            Thị trường hóa văn học Trung Quốc thể hiện rõ nhất ở chiến lược tổ chức xuất bản tác phẩm văn học. Thành công rõ nhất trong mô hình này là bộ sách “Bố lão hổ tùng thư” của nhà xuất bản Văn nghệ Xuân Phong tỉnh Liêu Ninh những năm 90. Bộ sách này thể hiện rất rõ ý tưởng xây dựng thương hiệu, tuân thủ nghiêm ngặt quy luật thị trường. Để thu hút được các nhà văn có tên tuổi, có lí tưởng văn học cao cả và có sức ảnh hưởng trên văn đàn, người xây dựng ý tưởng của bộ sách này đã dương cao ngọn cờ văn học cao nhã và mục tiêu thúc đẩy sự phát triển văn học nước nhà, hướng tới chủ đề “tình yêu hoàn mĩ”. Việc tận dụng danh tiếng của nhà văn cũng là một cách thu hút độc giả, ngay cả độc giả khó tính nhất, còn việc hướng tới chủ đề tình yêu hoàn mĩ thì có thể thu hút đông đảo độc giả thuộc các tầng lớp khác nhau. Cách làm như vậy mang đến lí do hợp tác với các nhà văn chuyên nghiệp, đồng thời mở rộng lượng độc giả, mở rộng phạm vi lựa chọn nhà văn, lựa chọn đề tài và sự tiếp nhận của người đọc. Điều này đã kết hợp được giữa cao nhã và thông tục, truyền thống và kinh điển, sản xuất văn học và tiêu thụ văn học. Từ năm 1993 đến 2000, bộ sách này có hơn 20 bộ tiểu thuyết bán chạy của hơn 10 nhà văn có sức ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc, như Khổ giới (1993) của Hồng Phong, Tạo hóa (1994) của Lục Đào, Người đàn bà tắm (1994) của Thiết Ngưng, Ám sát – 3322 của Vương Mông, Thổ môn (1996) của Giả Bình Ao…
            Trong quá trình thị trường hóa văn học không thể không nhắc đến sự tham gia của các phương tiện truyền thông. Sang thế kỉ 21, internet ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ dẫn tới sự xuất hiện và phát triển của văn học mạng. Tham gia vào bộ phận văn học này rõ nhất là các nhà văn 8x. Họ đã biến internet thành phương tiện quảng bá cho tác phẩm của mình. Họ công bố tác phẩm của mình trên mạng trước, khi phát hiện tác phẩm của mình có lượng truy cập lớn thì sẽ xuất bản thành sách. Năm 2002 Ảo thành của Quách Kiến Minh công bố trên mạng có được lượng truy cập lớn, nhà xuất bản Xuân Phong liền mời hợp tác chỉnh sửa xuất bản, năm 2003 tác phẩm này chỉ sau 10 tháng đã bán đươc 1,2 triệu bản. Việc công bố triên mạng giúp các nhà văn thăm dò phản ứng của độc giả, và khi lượng truy cập lớn thì các nhà xuất bản sẽ tìm đến. Đây là con đường được các nhà văn 8x sử dụng tương đối thành công, mang lại danh tiếng và lợi nhuận không nhỏ. Sự kết hợp giữa internet và nhà xuất bản góp phần đưa văn học vào con đường thương mại hóa. Bên cạnh internet, đài truyền hình cũng tham gia vào quá trình thị trường hóa văn học.
III. Kết luận
            Quá trình thị trường hóa văn học Trung Quốc diễn ra gắn liền với sự hình thành phát triển của kinh tế thị trường, “Kinh tế thị trường thúc đẩy thị trường hóa, sản nghiệp hóa văn học”[5]. Thị trường hóa văn học Trung Quốc diễn ra tương đối mạnh mẽ đã tạo nên biến đổi sâu sắc trong toàn bộ đời sống văn học. Ẩn sâu trong những biến động về đội ngũ sáng tác, hoạt động sáng tác, truyền bá và tiêu thụ là sự thay đổi trong quan niệm về giá trị, chức năng của văn học cũng như quan niệm về hành động viết. Trong quá trình thị trường hóa văn học, một vấn đề mấu chốt đặt ra là quan hệ giữa giá trị thẩm mĩ và giá trị hàng hóa. Thị trường làm cho giá trị hàng hóa của văn học trội lên, nhưng chỉ có trên cơ sở đảm bảo được giá trị thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật, tác phẩm văn học mới giữ được bản chất của nó, và mới có được sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến độc giả.
(Bài đã đăng trên Tạp chí Lí luận phê bình văn học nghệ thuật, số  tháng 8 năm 2017)
Chú thích:
* Tiến sĩ Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội (1979 -)
[1] Lí luận văn học thị trường – kiêm bàn về sự chuyển dịch và thay đổi của văn học những năm 90, Tây Bắc Sư đại học báo, số 2, quyển 34, 1997)
[2] Triệu Khoa Ấn, Kinh tế thị trường và việc tái thiết hệ thống diễn ngôn văn học, Tạp chí khoa học Học viện sư phạm Hoài Âm, 4, 2001, tr490
[3] Vương Hiểu Văn, Hoàn cảnh văn học thị trường hóa và sự phát triển của văn học thị dân, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Bắc, số 5 quyển 28, 2005
[4] Trình Quang Vĩ, Lịch sử phát triển văn học đương đại Trung Quốc, Nhà xuất bản Đại học Bắc kinh, 2011, tr 330
[5] Trương Nham Băng, Sự biến đổi của văn học trong thời kinh tế thị trường, Tạp chí khoa học đại học sư phạm Quảng Tây, số 4 quyển 41, 2005, tr 65
Xem tiếp…

Phát triển Phê bình luân lí học văn học ở Việt Nam

21:18 |
  1. Mở đầu
Hiện nay, trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam tồn tại rất nhiều phương pháp phê bình văn học, hình thành cục diện đa nguyên, nhưng từ sau đổi mới, thuật ngữ phê bình luân lí học văn học chưa một lần được chú ý. Bài viết này muốn từ những vận động trong nghiên cứu văn học thế giới và thực tiễn hoạt động văn học trong nước, giới thiệu phương pháp phê bình luân lí học văn học và phân tích khả năng phát triển của phương pháp này ở Việt nam.
  1. Nội dung
  2. Chuyển hướng luân lí trong nghiên cứu văn học thế giới – cơ hội đến từ bên ngoài
          Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và đạo đức luân lí ngay từ thời cổ đại đã được chú ý đến, nhưng công trình nghiên cứu luân lí học văn học chỉ thực sự xuất hiện vào nửa sau thế kỉ 19. Bài diễn giảng Luân lí học văn học ở Dartmouth College năm 1838 của Ralph Waldo Emerson, Bàn về văn học và luân lí học (1853) của White có ảnh hưởng tương đối lớn… Sau đó, nửa sau thế kỉ 19 xuất hiện những chuyên luận học thuật như Luân lí học và mĩ học thơ ca hiện đại (J.B.Selkir, 1878), Luân lí học tiểu thuyết hiện đại (Trevor Creighton, 1884), Tuyển tập văn học và luân lí học (Wiliam E.A.Xon, 1889), Luân lí học văn học nghệ thuật (Maurice Thompson, 1893), Luân lí học văn học(John A.Kersey, 1894)… Đầu thế kỉ 20, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa duy mĩ và lí luận ngôn ngữ của Saussure, chủ nghĩa thực chứng, nghiên cứu văn học phương Tây đã thực hiện sự chuyển hướng ngôn ngữ luận, Phê bình mới, Chủ nghĩa hình thức Nga, Chủ nghĩa cấu trúc, Kí hiệu học… đều nhấn mạnh vị trí trung tâm của ngôn ngữ, nhấn mạnh quy luật nội tại của bản thân văn học, từ đó tiến thêm một bước phân tích quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ. Vấn đề đạo đức luân lí luân lí trong nghiên cứu văn học bị mờ hơn khi nghiên cứu văn học bước vào giai đoạn hậu hiện đại với sự xuất hiện của chủ nghĩa tương đối, đa nguyên giá trị…. Tuy nhiên, nghiên cứu văn học và luân lí học vẫn là đối tượng được quan tâm của xã hội, nhà văn và bạn đọc, như cuốn Dẫn luận luân lí học kịch thời đại Elizabeth: nhạc giao hưởng Shakepear (Harold Bayley, 1906), Văn học Hy Lạp và Tôn giáo luân lí học, luân lí học cựu ước (stella Louise Lange, 1935)… Nhưng nhìn chung, nghiên cứu luân lí học văn học đã trầm xuống.
Từ những năm 80 của thế kỉ 20, nghiên cứu văn học thế giới lại có bước chuyển hướng văn hóa với hàng loạt khuynh hướng nghiên cứu như Chủ nghĩa nữ quyền, Chủ nghĩa hậu thực dân, Phê bình sinh thái… Lúc này, nghiên cứu luân lí học văn học lại được phục hưng. Có khuynh hướng nghiên cứu giá trị luân lí của văn học nhà văn và sự đọc, như Tưởng tượng đạo đức: bàn về văn học và luân lí học (Chrristopher Laurensen, 1986), Luân lí học của sự đọc (J.Hills Miller, 1987)… luân lí học văn học đã trở thành một khoa học mới được đông đảo giới học thuật chú ý. Bên cạnh đó còn có xu hướng chuyển từ nghiên cứu giá trị đạo đức thông thường của văn học sang phân tích vấn đề luân lí của tác phẩm, nhà văn. Gray. Wei và David Williams chủ biên cuốn Văn học và luân lí học (1988) đã thể hiện rõ ràng khuynh hướng này. Sang thế kỉ 21 thì hướng này phát triển thêm một bước với những công trình như Song trùng điểm nhìn: triết học đạo đức và Kịch Shakepear (2007), Tưởng tượng đạo đức của T.S. Eliot thế kỉ 20 (2008). Như vậy phê bình luân lí văn học đã thoát khỏi sự chèn ép của các trường phái nghiên cứu khác và trở lại, đồng thời đã có những biểu hiện mới. Có học giả cho rằng, sang thế kỉ 21 nhân loại phải đối diện thường xuyên với vấn đề sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội, cho nên, luân lí đạo đức và môi trường tự nhiên trở thành vấn đề chủ yếu của thế kỉ mới, chính điều này đã thúc đẩy sự chuyển hướng của luân lí học văn học.
Ở Trung Quốc, hình thức biểu hiện sớm nhất của phê bình luân lí – phê bình đạo đức – bắt đầu từ thời Chu. Chỉ có điều phê bình luân lí lúc đó chủ yếu dùng ý thức đạo đức chính trị và quan hệ luân lí để phân tích và bình giá tác phẩm văn học nghệ thuật, sau đó, thông qua sự khuếch trương của Khổng Tử, nó có hảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác và phê bình văn nghệ sau này. Đến những năm 80 của thế kỉ 20, giáo sư Chu Hiến bắt đầu nghiên cứu công trình của đại diện cho phê bình luân lí Mĩ Wayne Clayson Booth, năm 1984 đã đăng bài Một vài khuynh hướng nghiên cứu văn học phương tây hiện đại[1] trong đó đặc biệt đã nói đến phê bình luân lí hiện đại phương Tây. Cuốn Tu từ học tiểu thuyết[2] của Booth do Chu Hiếu…. dịch năm 1987 đã đánh dấu phê bình luân lí Mĩ bắt đầu được tiếp nhận và truyền bá ở Trung Quốc, đặt cơ sở cho phê bình luân lí phát triển mạnh ở Trung Quốc đầu thế kỉ 21. Năm 2009 Mục Lôi chủ biên và cho xuất bản cuốn: Sự phục hưng của tu từ[3] của Clayson Booth tập hợp 17 bài kinh điển giới thiệu quan điểm chủ yếu và phê bình mang tính chất đại diện cho phê bình luân lí Mĩ của ông. Nhưng phê bình luân lí học văn học ở Trung Quốc chỉ thực sự phát triển mạnh với giáo sư Đại học Sư phạm Hoa Trung Nhiếp Trân Chiêu. Từ năm 2004 đến nay ông đã chủ trì 5 hội thảo quốc tế về phê bình luân lí học văn học thu hút sự tham gia của hàng trăm học giả trong nước và quốc tế mỗi lần tổ chức, đồng thời cho xuất bản cuốn Dẫn luận phê bình luân lí học văn học (2014)[4].
  1. Phê bình luân lí học văn học – phương pháp nghiên cứu văn học đặc thù
          Cho đến nay, phương pháp phê bình luân lí học văn học vẫn chưa thực sự được chú ý ở Việt Nam. Ấn tượng về một thời phê bình văn học có khuynh hướng chụp mũ, quy kết, phán xét khá nặng nề đã dẫn đến tình trạng dị ứng với phương pháp phê bình luân lí đạo đức trong nghiên cứu văn học, mặc dù ở chỗ này chỗ khác, trong quá trình nghiên cứu các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam vẫn khắc khoải về tình trạng tha hóa về đạo đức. Để xóa bỏ định kiến này, trước hết, chúng ta cần phải giới định về phương pháp phê bình luân lí học văn học trong tương quan với luân lí học và phê bình đạo đức.
Phê bình luân lí học văn học và luân lí học có mối quan hệ gần gũi bởi vì phê bình luân lí học văn học đã mượn phương pháp luân lí học để nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, khi vận dụng phương pháp luân lí học nghiên cứu văn học, phê bình luân lí học văn học vẫn không xa rời các phương pháp nghiên cứu văn học khác.  Đối tượng nghiên cứu của phê bình luân lí học văn học và luân lí học cũng khác nhau. Đối tượng nghiên cứu của luân lí học là các hiện tượng đạo đức trong xã hội hiện thực, hoặc nếu có nghiên cứu các hiện tượng đạo đức trong tác phẩm văn học thì luân lí học cũng chỉ coi nó như một tư liệu để đánh giá vấn đề đạo đức trong đời sống hiện thực xã hội, từ đó đưa ra các phán đoán giá trị thiện ác. Trong khi đó, đối tượng nghiên cứu của phê bình luân lí học văn học lại là các hiện tượng đạo đức trong thế giới sáng tạo bằng ngôn từ nghệ thuật, giống hiện thực mà không phải là hiện thực, từ đó đưa ra các phán đoán thẩm mĩ. Nhiếp Trân Chiêu khẳng định: “phương pháp phê bình luân lí học văn học và luân lí học vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt trên phương diện đối tượng, nội dung và mục đích đạt tới”[5].
Cũng cần phải phân biệt Phê bình luân lí học văn học với Phê bình đạo đức.  Về bản chất, phê bình luân lí học văn học là một phương pháp nghiên cứu văn học, cho nên điều mà nó quan tâm là phân tích, lí giải các hiện tượng đạo đức trong thế giới do nhà văn sáng tạo ra, một thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian, quy luật và số phận riêng. Trong quá trình phân tích lí giải đó, phương pháp phê bình này chú ý đảm bảo nguyên tắc thẩm mĩ, ứng xử với vấn đề đó như ứng xử với một sản phẩm của sáng tạo nghệ thuật. Trong khi Phê bình đạo đức lại ứng xử với các hiện tượng đạo đức từ lập trường của hiện thực, quy kết nó về thực tại. Chính điều này khiến cho giới nghiên cứu phê bình Việt Nam dị ứng với phê bình đạo đức. Bởi phương pháp này dễ dẫn đến quy chụp, phán xét không để ý đến bản chất thẩm mĩ của văn học. Nhiếp Trân Chiêu từng chỉ ra: “Phê bình luân lí học văn học và phê bình đạo đức khác nhau ở chỗ phê bình luân lí học văn học kiên trì bình giá văn học từ lập trường của hư cấu nghệ thuật, còn phê bình đạo đức lại phê bình văn học từ lập trường hiện thực và chủ quan”[6].
Trên tổng thể, sang thế kỉ mới, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã tiến hành giới định lại, tiến tới hoàn thiện trong quan niệm về phê bình luân lí học văn học. Ở phương diện này, người có đóng góp khá lớn là Nhiếp Trân Chiêu. Ông đã xuất phát từ nhiều góc độ để có một cái nhìn tương đối toàn diện về phương pháp phê bình cổ điển mà hiện đại này. Từ góc độ quan hệ giữa nhà văn và sáng tác, phê bình luân lí nghiên cứu quan niệm đạo đức luân lí của nhà văn và đặc điểm, nguyên nhân, bối cảnh thời đại, quá trình hình thành những quan niệm này; quan hệ giữa quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức mà tác phẩm biểu hiện; ảnh hưởng của quan niệm đạo đức luân lí của nhà văn đến sáng tác của họ. Riêng đối với sáng tác của nhà văn, phê bình luân lí nghiên cứu các quan hệ giữa tác phẩm và các hiện tượng đạo đức tồn tại trong xã hội; khuynh hướng đạo đức mà tác phẩm biểu hiện; giá trị xã hội và giá trị đạo đức trong tác phẩm. Đối với quan hệ giữa người đọc và tác phẩm, phê bình luân lí nghiên cứu cảm thụ của người đọc về quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức trong tác phẩm, sự bình giá của người đọc về quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức trong tác phẩm, ảnh hưởng của khuynh hướng đạo đức trong tác phẩm đối với người đọc và xã hội. Phê bình luân lí còn bao gồm: làm thế nào từ góc độ luân lí học bình giá khuynh hướng đạo đức của nhà văn và tác phẩm; quan hệ giữa quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức mà tác phẩm biểu hiện với truyền thống; ảnh hưởng của quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức của tác phẩm đến nhà văn và văn học đời sau; tác phẩm văn học, đạo đức xã hội và giáo dục đạo đức xã hội. Mục đích của phê bình luân lí học văn học không chỉ là thuyết minh đặc điểm của luân lí đạo đức trong văn học hoặc vấn đề luân lí học của việc nhà văn sáng tác văn học, mà còn là từ góc độ đạo đức luân lí nghiên cứu các vấn đề về quan hệ giữa tác phẩm văn học và xã hội, văn học và nhà văn, văn học và người đọc[7]
Như vậy, trong khái quát giới định lại về phê bình luân lí học văn học của giới nghiên cứu Trung Quốc đã cho thấy diện mạo mới của phê bình luân lí học văn học trong thời kì mới. Phê bình luân lí học văn học khôi phục lại vị trí của tác giả trong quá trình hình thành văn bản; thừa nhận tính xã hội của văn bản. Nhấn mạnh vai trò của người đọc, có điều, văn học bị coi là kẻ khác của người đọc, người đọc là tham tố của vấn đề luân lí mà tác giả – người thiết kế văn bản quan tâm. Phê bình luân lí phát hiện ra diện mạo đạo đức, mục đích đạo đức ngay trong kết cấu hình thức, mô hình thể loại, mô hình diễn ngôn cụ thể. Tất nhiên, phê bình luân lí học văn học cũng không quên vai trò của chính trị, xã hội. Cuối cùng, phê bình luân lí học văn học tiếp tục bàn luận vai trò của chính trị, xã hội[8].  Rõ ràng, trong thời kì mới, phê bình luân lí học văn học chú ý đến quan hệ tương tác giữa việc làm thế nào để miêu tả kẻ khác, xác lập quan hệ trách nhiệm với kẻ khác, so sánh thể nghiệm kẻ khác và việc đọc văn bản. Thông qua việc đọc văn bản có thể thu được kinh nghiệm đối xử một cách luân lí với kẻ khác và bản thân việc đọc chính là trải nghiệm đối xử luân lí với người khác. Có thể thấy, phê bình luân lí học văn học hiện đại đã hấp thu được những thành quả mới nhất của nghiên cứu văn học để tự hình thành nên một diện mạo mới.
  1. Đời sống văn học Việt Nam – cơ hội đến từ bên trong
          Từ góc độ thực tiễn sáng tác, có thể thấy văn học Việt Nam từ xưa đã thấm đậm tinh thần đạo đức luân lí. Đây là cơ sở lí tưởng cho phê bình luân lí học văn học phát triển. Ngự trị trong thời trung đại là quan niệm sáng tác “văn dĩ tải đạo”. Dòng chủ lưu của sáng tác thời kì đó là văn học thể hiện các phạm trù luân lí đạo đức phong kiến, ngay kiệt tác Truyện Kiều cũng không xa rời quan hệ, xung đột đạo đức. Đến những năm đầu thế kỉ 20, vấn đề lớn trong văn học lãng mạn cũng là vấn đề xung đột giữa quan niệm đạo đức truyền thống và hiện đại, vấn đề khát vọng hạnh phúc cá nhân và nền tảng đạo đức phong kiến. Văn học hiện thực phê phán cũng tập trung vào vấn đề quan hệ giữa con người và xã hội hiện thực, vào việc xử lí vấn đề đạo đức nhân phẩm trong quan hệ với hiện thực nghiệt ngã. Đến văn học cách mạng, bao trùm lên tất cả là vấn đề đạo đức cách mạng, vấn đề đạo đức của con người trong công cuộc xây dựng xã hội mới, đạo đức của con người trong ứng xử với chiến tranh, kẻ thù, chiến hữu…. Rồi văn học thời kì hậu chiến, vấn đề đạo đức trong thời kì mới được đặt ra mãnh liệt hơn, đặc biệt là khi cơ chế thị trường, đồng tiền can thiệp mạnh mẽ vào các mối quan hệ xã hội, vấn đề ứng xử với quá khứ, với những tàn dư của chiến tranh như thế nào. Điều này có thể thấy rất rõ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Chu Lai… Thực tiễn sáng tác như vậy là mảnh đất màu mỡ để phê bình luân lí học văn học phát triển. Chúng ta có thể sử dụng các thuật ngữ công cụ như ý thức luân lí, trật tự luân lí, cấm kị luân líhoàn cảnh luân lí, căn cước luân líhỗn loạn luân lítuyến luân lí chi phối, liên kết các sự kiện luân lí và xung đột luân lí. Các thuật ngữ này giúp nhà phê bình có thể thao tác được lí thuyết nhằm ứng dụng vào nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể. Từ xưa đến nay, mặc dù trải qua nhiều lần đổi mới, nhưng về đại thể, sáng tác văn học Việt Nam chưa bao giờ là những trò chơi hình thức thuần túy.
Từ thực tiễn nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam, cũng có thể nhận thấy, hiện nay là thời điểm thuận lợi để phát triển phê bình luân lí học văn học. Nghiên cứu văn học trước đổi mới chịu ảnh hướng của không khí văn học phục vụ chính trị, cho nên đã coi nhẹ bản chất thẩm mĩ của văn học. Muốn thoát khỏi không khí đó, dòng chính của nghiên cứu văn học sau 1986 là dòng truy tìm bản chất nghệ thuật của văn học, khẳng định giá trị tự thân của tác phẩm văn học. Nhưng cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, hướng nghiên cứu nội tại tồn tại trên dưới 20 năm đã không còn giữ vị trí độc tôn nữa, bên cạnh chủ nghĩa hình thức Nga, kí hiệu học, Chủ nghĩa cấu trúc, Tự sự học, Thi pháp học đã xuất hiện Phân tâm học, Chủ nghĩa nữ quyền, Phê bình hậu thực dân, Phê bình sinh thái và sự trở lại của Mĩ học tiếp nhận. Giống như bối cảnh dẫn đến chuyển hướng luân lí học trong nghiên cứu văn học thế giới, đây cũng là cơ hội để phê bình luân lí học văn học có thể được nhìn nhận và phát triển ở Việt Nam. Ngoài ra, việc tồn tại phong phú các phương pháp phê bình khác không hề mâu thuẫn với việc phát triển phê bình luân lí, ngược lại, còn tạo điều kiện thuận lợi để phê bình luân lí phát triển. Phê bình luân lí học văn học không hề tách rời các phương pháp phê bình khác. Chẳng hạn, cũng giống như phê bình lịch sử, phê bình luân lí quan tâm đến các hiện tượng văn học, xác lập địa vị lịch sử của nhà văn, tác phẩm, cũng đặt các hiện tượng văn học vào bối cảnh lịch sử để đánh giá. Tất nhiên phê bình luân lí trong thực tiễn phê bình không thể tách rời phê bình thẩm mĩ, không né tránh các yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật. Đây cũng là xu hướng tồn tại chung của các phương pháp phê bình hiện nay. Sự phong phú đa dạng của các khuynh hướng phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay trở thành điều kiện thuận lợi để phê bình luân lí học văn học phát triển. Thành tựu của các phương pháp phê bình văn học khác sẽ được tận dụng để giúp cho phê bình luân lí luân lí làm tốt hơn nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Phê bình luân lí học văn học cũng có thể tìm thấy cơ hội phát triển trong tâm lí tiếp nhận của độc giả Việt Nam. Cho dù bản thân người viết chưa có dịp tiến hành điều tra xã hội học về vấn đề thị hiếu độc giả, nhưng thông qua những tác phẩm được sáng tác, dịch thuật ở Việt Nam có thể gián tiếp thấy được vấn đề tâm lí tiếp nhận. Bởi sáng tác văn học, dịch thuật văn học trước hết là sáng tác dịch thuật cho độc giả, nếu độc giả không hưởng ứng, thì tự nhiên tác phẩm không có lí do để tồn tại và tiếp tục xuất hiện. Từ thực tiễn sáng tác và dịch thuật có thể thấy độc giả Việt Nam chưa bao giờ tỏ ra lạnh nhạt với những vấn đề thuộc phạm trù luân lí đạo đức. Đó cũng là một trong những lí do khiến sáng tác mang nhiều trăn trở về vấn đề luân lí đạo đức gia đình, xã hội, về cách ứng xử với con người với tự nhiên của Nguyễn Huy Thiệp được hưởng ứng mạnh mẽ như vậy ở Việt Nam từ sau đổi mới đến nay. Xa rời những trăn trở về xã hội, cuộc sống con người, trong đó có vấn đề luân lí đạo đức, những thể nghiệm hình thức thuần túy hoặc thiên sang thể nghiệm hình thức chưa bao giờ được nhiệt liệt đón nhận ở Việt Nam.
III. Kết luận
Nhìn chung, ở Việt Nam từ góc độ sáng tác, nghiên cứu văn học đến tâm lí tiếp nhận đều cho thấy phê bình luân lí học văn học có nhiều cơ hội phát triển. Không thể phủ nhận ảnh hưởng sâu sắc của luân lí đạo đức Nho giáo trong đời sống văn hóa văn học Việt Nam hàng nghìn năm. Cho nên, phát triển phê bình luân lí văn học cũng là xây dựng và vận dụng một phương pháp phê bình có thể giúp giới nghiên cứu thuận lợi hơn trong việc tìm ra đặc trưng của văn học Việt Nam so với các nền văn học khác trên thế giới, đặc biệt là văn học phương Tây. Phát triển phương pháp phê bình này cũng là một cách nhằm tránh rơi vào nghiên cứu văn học một cách khép kín, kinh viện, nâng cao trách nhiệm của người sáng tác, người đọc đối với các vấn đề xã hội, môi trường.

Chú thích:
[1] Chu Hiến(1984), Một vài khuynh hướng nghiên cứu văn học phương tây hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn nghệ, số 6
[2] Clayson Booth(1987), Tu từ học tiểu thuyết, Chu Hiến…dịch, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh
[3] Clayson Booth(2009), Sự phục hưng của tu từ, Mục Lôi…dịch, Nhà xuất bản Dịch lâm
[4] Nhiếp Trân Chiêu(2014), Dẫn luận phê bình luân lí học văn học, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh
[5] Nhiếp Trân Chiêu(2006), Phê bình luân lí học văn học và phê bình đạo đức, tạp chí Nghiên cứu văn học nước ngoài, số 2, tr 9
[6] Nhiếp Trân Chiêu(2006), Phê bình luân lí học văn học và phê bình đạo đức, tạp chí Nghiên cứu văn học nước ngoài, số 2, tr 11
[7] Nhiếp Trân Chiêu(2004), Phê bình luân lí học văn học: Tìm hiểu mới về phương pháp phê bình văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học nước ngoài, số 5, tr 19-20.
[8] Lawrence Buell(1999), Introduction: In pursuit of Ethics, PMLA 114, tr7-19

Đỗ Văn Hiểu
(Bài đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, số 5 năm 2016, tr 53-58)
Xem tiếp…

Phát triển Phê bình luân lí học văn học ở Việt Nam

21:18 |
  1. Mở đầu
Hiện nay, trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam tồn tại rất nhiều phương pháp phê bình văn học, hình thành cục diện đa nguyên, nhưng từ sau đổi mới, thuật ngữ phê bình luân lí học văn học chưa một lần được chú ý. Bài viết này muốn từ những vận động trong nghiên cứu văn học thế giới và thực tiễn hoạt động văn học trong nước, giới thiệu phương pháp phê bình luân lí học văn học và phân tích khả năng phát triển của phương pháp này ở Việt nam.
  1. Nội dung
  2. Chuyển hướng luân lí trong nghiên cứu văn học thế giới – cơ hội đến từ bên ngoài
          Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và đạo đức luân lí ngay từ thời cổ đại đã được chú ý đến, nhưng công trình nghiên cứu luân lí học văn học chỉ thực sự xuất hiện vào nửa sau thế kỉ 19. Bài diễn giảng Luân lí học văn học ở Dartmouth College năm 1838 của Ralph Waldo Emerson, Bàn về văn học và luân lí học (1853) của White có ảnh hưởng tương đối lớn… Sau đó, nửa sau thế kỉ 19 xuất hiện những chuyên luận học thuật như Luân lí học và mĩ học thơ ca hiện đại (J.B.Selkir, 1878), Luân lí học tiểu thuyết hiện đại (Trevor Creighton, 1884), Tuyển tập văn học và luân lí học (Wiliam E.A.Xon, 1889), Luân lí học văn học nghệ thuật (Maurice Thompson, 1893), Luân lí học văn học(John A.Kersey, 1894)… Đầu thế kỉ 20, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa duy mĩ và lí luận ngôn ngữ của Saussure, chủ nghĩa thực chứng, nghiên cứu văn học phương Tây đã thực hiện sự chuyển hướng ngôn ngữ luận, Phê bình mới, Chủ nghĩa hình thức Nga, Chủ nghĩa cấu trúc, Kí hiệu học… đều nhấn mạnh vị trí trung tâm của ngôn ngữ, nhấn mạnh quy luật nội tại của bản thân văn học, từ đó tiến thêm một bước phân tích quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ. Vấn đề đạo đức luân lí luân lí trong nghiên cứu văn học bị mờ hơn khi nghiên cứu văn học bước vào giai đoạn hậu hiện đại với sự xuất hiện của chủ nghĩa tương đối, đa nguyên giá trị…. Tuy nhiên, nghiên cứu văn học và luân lí học vẫn là đối tượng được quan tâm của xã hội, nhà văn và bạn đọc, như cuốn Dẫn luận luân lí học kịch thời đại Elizabeth: nhạc giao hưởng Shakepear (Harold Bayley, 1906), Văn học Hy Lạp và Tôn giáo luân lí học, luân lí học cựu ước (stella Louise Lange, 1935)… Nhưng nhìn chung, nghiên cứu luân lí học văn học đã trầm xuống.
Từ những năm 80 của thế kỉ 20, nghiên cứu văn học thế giới lại có bước chuyển hướng văn hóa với hàng loạt khuynh hướng nghiên cứu như Chủ nghĩa nữ quyền, Chủ nghĩa hậu thực dân, Phê bình sinh thái… Lúc này, nghiên cứu luân lí học văn học lại được phục hưng. Có khuynh hướng nghiên cứu giá trị luân lí của văn học nhà văn và sự đọc, như Tưởng tượng đạo đức: bàn về văn học và luân lí học (Chrristopher Laurensen, 1986), Luân lí học của sự đọc (J.Hills Miller, 1987)… luân lí học văn học đã trở thành một khoa học mới được đông đảo giới học thuật chú ý. Bên cạnh đó còn có xu hướng chuyển từ nghiên cứu giá trị đạo đức thông thường của văn học sang phân tích vấn đề luân lí của tác phẩm, nhà văn. Gray. Wei và David Williams chủ biên cuốn Văn học và luân lí học (1988) đã thể hiện rõ ràng khuynh hướng này. Sang thế kỉ 21 thì hướng này phát triển thêm một bước với những công trình như Song trùng điểm nhìn: triết học đạo đức và Kịch Shakepear (2007), Tưởng tượng đạo đức của T.S. Eliot thế kỉ 20 (2008). Như vậy phê bình luân lí văn học đã thoát khỏi sự chèn ép của các trường phái nghiên cứu khác và trở lại, đồng thời đã có những biểu hiện mới. Có học giả cho rằng, sang thế kỉ 21 nhân loại phải đối diện thường xuyên với vấn đề sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội, cho nên, luân lí đạo đức và môi trường tự nhiên trở thành vấn đề chủ yếu của thế kỉ mới, chính điều này đã thúc đẩy sự chuyển hướng của luân lí học văn học.
Ở Trung Quốc, hình thức biểu hiện sớm nhất của phê bình luân lí – phê bình đạo đức – bắt đầu từ thời Chu. Chỉ có điều phê bình luân lí lúc đó chủ yếu dùng ý thức đạo đức chính trị và quan hệ luân lí để phân tích và bình giá tác phẩm văn học nghệ thuật, sau đó, thông qua sự khuếch trương của Khổng Tử, nó có hảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác và phê bình văn nghệ sau này. Đến những năm 80 của thế kỉ 20, giáo sư Chu Hiến bắt đầu nghiên cứu công trình của đại diện cho phê bình luân lí Mĩ Wayne Clayson Booth, năm 1984 đã đăng bài Một vài khuynh hướng nghiên cứu văn học phương tây hiện đại[1] trong đó đặc biệt đã nói đến phê bình luân lí hiện đại phương Tây. Cuốn Tu từ học tiểu thuyết[2] của Booth do Chu Hiếu…. dịch năm 1987 đã đánh dấu phê bình luân lí Mĩ bắt đầu được tiếp nhận và truyền bá ở Trung Quốc, đặt cơ sở cho phê bình luân lí phát triển mạnh ở Trung Quốc đầu thế kỉ 21. Năm 2009 Mục Lôi chủ biên và cho xuất bản cuốn: Sự phục hưng của tu từ[3] của Clayson Booth tập hợp 17 bài kinh điển giới thiệu quan điểm chủ yếu và phê bình mang tính chất đại diện cho phê bình luân lí Mĩ của ông. Nhưng phê bình luân lí học văn học ở Trung Quốc chỉ thực sự phát triển mạnh với giáo sư Đại học Sư phạm Hoa Trung Nhiếp Trân Chiêu. Từ năm 2004 đến nay ông đã chủ trì 5 hội thảo quốc tế về phê bình luân lí học văn học thu hút sự tham gia của hàng trăm học giả trong nước và quốc tế mỗi lần tổ chức, đồng thời cho xuất bản cuốn Dẫn luận phê bình luân lí học văn học (2014)[4].
  1. Phê bình luân lí học văn học – phương pháp nghiên cứu văn học đặc thù
          Cho đến nay, phương pháp phê bình luân lí học văn học vẫn chưa thực sự được chú ý ở Việt Nam. Ấn tượng về một thời phê bình văn học có khuynh hướng chụp mũ, quy kết, phán xét khá nặng nề đã dẫn đến tình trạng dị ứng với phương pháp phê bình luân lí đạo đức trong nghiên cứu văn học, mặc dù ở chỗ này chỗ khác, trong quá trình nghiên cứu các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam vẫn khắc khoải về tình trạng tha hóa về đạo đức. Để xóa bỏ định kiến này, trước hết, chúng ta cần phải giới định về phương pháp phê bình luân lí học văn học trong tương quan với luân lí học và phê bình đạo đức.
Phê bình luân lí học văn học và luân lí học có mối quan hệ gần gũi bởi vì phê bình luân lí học văn học đã mượn phương pháp luân lí học để nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, khi vận dụng phương pháp luân lí học nghiên cứu văn học, phê bình luân lí học văn học vẫn không xa rời các phương pháp nghiên cứu văn học khác.  Đối tượng nghiên cứu của phê bình luân lí học văn học và luân lí học cũng khác nhau. Đối tượng nghiên cứu của luân lí học là các hiện tượng đạo đức trong xã hội hiện thực, hoặc nếu có nghiên cứu các hiện tượng đạo đức trong tác phẩm văn học thì luân lí học cũng chỉ coi nó như một tư liệu để đánh giá vấn đề đạo đức trong đời sống hiện thực xã hội, từ đó đưa ra các phán đoán giá trị thiện ác. Trong khi đó, đối tượng nghiên cứu của phê bình luân lí học văn học lại là các hiện tượng đạo đức trong thế giới sáng tạo bằng ngôn từ nghệ thuật, giống hiện thực mà không phải là hiện thực, từ đó đưa ra các phán đoán thẩm mĩ. Nhiếp Trân Chiêu khẳng định: “phương pháp phê bình luân lí học văn học và luân lí học vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt trên phương diện đối tượng, nội dung và mục đích đạt tới”[5].
Cũng cần phải phân biệt Phê bình luân lí học văn học với Phê bình đạo đức.  Về bản chất, phê bình luân lí học văn học là một phương pháp nghiên cứu văn học, cho nên điều mà nó quan tâm là phân tích, lí giải các hiện tượng đạo đức trong thế giới do nhà văn sáng tạo ra, một thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian, quy luật và số phận riêng. Trong quá trình phân tích lí giải đó, phương pháp phê bình này chú ý đảm bảo nguyên tắc thẩm mĩ, ứng xử với vấn đề đó như ứng xử với một sản phẩm của sáng tạo nghệ thuật. Trong khi Phê bình đạo đức lại ứng xử với các hiện tượng đạo đức từ lập trường của hiện thực, quy kết nó về thực tại. Chính điều này khiến cho giới nghiên cứu phê bình Việt Nam dị ứng với phê bình đạo đức. Bởi phương pháp này dễ dẫn đến quy chụp, phán xét không để ý đến bản chất thẩm mĩ của văn học. Nhiếp Trân Chiêu từng chỉ ra: “Phê bình luân lí học văn học và phê bình đạo đức khác nhau ở chỗ phê bình luân lí học văn học kiên trì bình giá văn học từ lập trường của hư cấu nghệ thuật, còn phê bình đạo đức lại phê bình văn học từ lập trường hiện thực và chủ quan”[6].
Trên tổng thể, sang thế kỉ mới, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã tiến hành giới định lại, tiến tới hoàn thiện trong quan niệm về phê bình luân lí học văn học. Ở phương diện này, người có đóng góp khá lớn là Nhiếp Trân Chiêu. Ông đã xuất phát từ nhiều góc độ để có một cái nhìn tương đối toàn diện về phương pháp phê bình cổ điển mà hiện đại này. Từ góc độ quan hệ giữa nhà văn và sáng tác, phê bình luân lí nghiên cứu quan niệm đạo đức luân lí của nhà văn và đặc điểm, nguyên nhân, bối cảnh thời đại, quá trình hình thành những quan niệm này; quan hệ giữa quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức mà tác phẩm biểu hiện; ảnh hưởng của quan niệm đạo đức luân lí của nhà văn đến sáng tác của họ. Riêng đối với sáng tác của nhà văn, phê bình luân lí nghiên cứu các quan hệ giữa tác phẩm và các hiện tượng đạo đức tồn tại trong xã hội; khuynh hướng đạo đức mà tác phẩm biểu hiện; giá trị xã hội và giá trị đạo đức trong tác phẩm. Đối với quan hệ giữa người đọc và tác phẩm, phê bình luân lí nghiên cứu cảm thụ của người đọc về quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức trong tác phẩm, sự bình giá của người đọc về quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức trong tác phẩm, ảnh hưởng của khuynh hướng đạo đức trong tác phẩm đối với người đọc và xã hội. Phê bình luân lí còn bao gồm: làm thế nào từ góc độ luân lí học bình giá khuynh hướng đạo đức của nhà văn và tác phẩm; quan hệ giữa quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức mà tác phẩm biểu hiện với truyền thống; ảnh hưởng của quan niệm đạo đức của nhà văn và khuynh hướng đạo đức của tác phẩm đến nhà văn và văn học đời sau; tác phẩm văn học, đạo đức xã hội và giáo dục đạo đức xã hội. Mục đích của phê bình luân lí học văn học không chỉ là thuyết minh đặc điểm của luân lí đạo đức trong văn học hoặc vấn đề luân lí học của việc nhà văn sáng tác văn học, mà còn là từ góc độ đạo đức luân lí nghiên cứu các vấn đề về quan hệ giữa tác phẩm văn học và xã hội, văn học và nhà văn, văn học và người đọc[7]
Như vậy, trong khái quát giới định lại về phê bình luân lí học văn học của giới nghiên cứu Trung Quốc đã cho thấy diện mạo mới của phê bình luân lí học văn học trong thời kì mới. Phê bình luân lí học văn học khôi phục lại vị trí của tác giả trong quá trình hình thành văn bản; thừa nhận tính xã hội của văn bản. Nhấn mạnh vai trò của người đọc, có điều, văn học bị coi là kẻ khác của người đọc, người đọc là tham tố của vấn đề luân lí mà tác giả – người thiết kế văn bản quan tâm. Phê bình luân lí phát hiện ra diện mạo đạo đức, mục đích đạo đức ngay trong kết cấu hình thức, mô hình thể loại, mô hình diễn ngôn cụ thể. Tất nhiên, phê bình luân lí học văn học cũng không quên vai trò của chính trị, xã hội. Cuối cùng, phê bình luân lí học văn học tiếp tục bàn luận vai trò của chính trị, xã hội[8].  Rõ ràng, trong thời kì mới, phê bình luân lí học văn học chú ý đến quan hệ tương tác giữa việc làm thế nào để miêu tả kẻ khác, xác lập quan hệ trách nhiệm với kẻ khác, so sánh thể nghiệm kẻ khác và việc đọc văn bản. Thông qua việc đọc văn bản có thể thu được kinh nghiệm đối xử một cách luân lí với kẻ khác và bản thân việc đọc chính là trải nghiệm đối xử luân lí với người khác. Có thể thấy, phê bình luân lí học văn học hiện đại đã hấp thu được những thành quả mới nhất của nghiên cứu văn học để tự hình thành nên một diện mạo mới.
  1. Đời sống văn học Việt Nam – cơ hội đến từ bên trong
          Từ góc độ thực tiễn sáng tác, có thể thấy văn học Việt Nam từ xưa đã thấm đậm tinh thần đạo đức luân lí. Đây là cơ sở lí tưởng cho phê bình luân lí học văn học phát triển. Ngự trị trong thời trung đại là quan niệm sáng tác “văn dĩ tải đạo”. Dòng chủ lưu của sáng tác thời kì đó là văn học thể hiện các phạm trù luân lí đạo đức phong kiến, ngay kiệt tác Truyện Kiều cũng không xa rời quan hệ, xung đột đạo đức. Đến những năm đầu thế kỉ 20, vấn đề lớn trong văn học lãng mạn cũng là vấn đề xung đột giữa quan niệm đạo đức truyền thống và hiện đại, vấn đề khát vọng hạnh phúc cá nhân và nền tảng đạo đức phong kiến. Văn học hiện thực phê phán cũng tập trung vào vấn đề quan hệ giữa con người và xã hội hiện thực, vào việc xử lí vấn đề đạo đức nhân phẩm trong quan hệ với hiện thực nghiệt ngã. Đến văn học cách mạng, bao trùm lên tất cả là vấn đề đạo đức cách mạng, vấn đề đạo đức của con người trong công cuộc xây dựng xã hội mới, đạo đức của con người trong ứng xử với chiến tranh, kẻ thù, chiến hữu…. Rồi văn học thời kì hậu chiến, vấn đề đạo đức trong thời kì mới được đặt ra mãnh liệt hơn, đặc biệt là khi cơ chế thị trường, đồng tiền can thiệp mạnh mẽ vào các mối quan hệ xã hội, vấn đề ứng xử với quá khứ, với những tàn dư của chiến tranh như thế nào. Điều này có thể thấy rất rõ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Chu Lai… Thực tiễn sáng tác như vậy là mảnh đất màu mỡ để phê bình luân lí học văn học phát triển. Chúng ta có thể sử dụng các thuật ngữ công cụ như ý thức luân lí, trật tự luân lí, cấm kị luân líhoàn cảnh luân lí, căn cước luân líhỗn loạn luân lítuyến luân lí chi phối, liên kết các sự kiện luân lí và xung đột luân lí. Các thuật ngữ này giúp nhà phê bình có thể thao tác được lí thuyết nhằm ứng dụng vào nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể. Từ xưa đến nay, mặc dù trải qua nhiều lần đổi mới, nhưng về đại thể, sáng tác văn học Việt Nam chưa bao giờ là những trò chơi hình thức thuần túy.
Từ thực tiễn nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam, cũng có thể nhận thấy, hiện nay là thời điểm thuận lợi để phát triển phê bình luân lí học văn học. Nghiên cứu văn học trước đổi mới chịu ảnh hướng của không khí văn học phục vụ chính trị, cho nên đã coi nhẹ bản chất thẩm mĩ của văn học. Muốn thoát khỏi không khí đó, dòng chính của nghiên cứu văn học sau 1986 là dòng truy tìm bản chất nghệ thuật của văn học, khẳng định giá trị tự thân của tác phẩm văn học. Nhưng cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, hướng nghiên cứu nội tại tồn tại trên dưới 20 năm đã không còn giữ vị trí độc tôn nữa, bên cạnh chủ nghĩa hình thức Nga, kí hiệu học, Chủ nghĩa cấu trúc, Tự sự học, Thi pháp học đã xuất hiện Phân tâm học, Chủ nghĩa nữ quyền, Phê bình hậu thực dân, Phê bình sinh thái và sự trở lại của Mĩ học tiếp nhận. Giống như bối cảnh dẫn đến chuyển hướng luân lí học trong nghiên cứu văn học thế giới, đây cũng là cơ hội để phê bình luân lí học văn học có thể được nhìn nhận và phát triển ở Việt Nam. Ngoài ra, việc tồn tại phong phú các phương pháp phê bình khác không hề mâu thuẫn với việc phát triển phê bình luân lí, ngược lại, còn tạo điều kiện thuận lợi để phê bình luân lí phát triển. Phê bình luân lí học văn học không hề tách rời các phương pháp phê bình khác. Chẳng hạn, cũng giống như phê bình lịch sử, phê bình luân lí quan tâm đến các hiện tượng văn học, xác lập địa vị lịch sử của nhà văn, tác phẩm, cũng đặt các hiện tượng văn học vào bối cảnh lịch sử để đánh giá. Tất nhiên phê bình luân lí trong thực tiễn phê bình không thể tách rời phê bình thẩm mĩ, không né tránh các yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật. Đây cũng là xu hướng tồn tại chung của các phương pháp phê bình hiện nay. Sự phong phú đa dạng của các khuynh hướng phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay trở thành điều kiện thuận lợi để phê bình luân lí học văn học phát triển. Thành tựu của các phương pháp phê bình văn học khác sẽ được tận dụng để giúp cho phê bình luân lí luân lí làm tốt hơn nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Phê bình luân lí học văn học cũng có thể tìm thấy cơ hội phát triển trong tâm lí tiếp nhận của độc giả Việt Nam. Cho dù bản thân người viết chưa có dịp tiến hành điều tra xã hội học về vấn đề thị hiếu độc giả, nhưng thông qua những tác phẩm được sáng tác, dịch thuật ở Việt Nam có thể gián tiếp thấy được vấn đề tâm lí tiếp nhận. Bởi sáng tác văn học, dịch thuật văn học trước hết là sáng tác dịch thuật cho độc giả, nếu độc giả không hưởng ứng, thì tự nhiên tác phẩm không có lí do để tồn tại và tiếp tục xuất hiện. Từ thực tiễn sáng tác và dịch thuật có thể thấy độc giả Việt Nam chưa bao giờ tỏ ra lạnh nhạt với những vấn đề thuộc phạm trù luân lí đạo đức. Đó cũng là một trong những lí do khiến sáng tác mang nhiều trăn trở về vấn đề luân lí đạo đức gia đình, xã hội, về cách ứng xử với con người với tự nhiên của Nguyễn Huy Thiệp được hưởng ứng mạnh mẽ như vậy ở Việt Nam từ sau đổi mới đến nay. Xa rời những trăn trở về xã hội, cuộc sống con người, trong đó có vấn đề luân lí đạo đức, những thể nghiệm hình thức thuần túy hoặc thiên sang thể nghiệm hình thức chưa bao giờ được nhiệt liệt đón nhận ở Việt Nam.
III. Kết luận
Nhìn chung, ở Việt Nam từ góc độ sáng tác, nghiên cứu văn học đến tâm lí tiếp nhận đều cho thấy phê bình luân lí học văn học có nhiều cơ hội phát triển. Không thể phủ nhận ảnh hưởng sâu sắc của luân lí đạo đức Nho giáo trong đời sống văn hóa văn học Việt Nam hàng nghìn năm. Cho nên, phát triển phê bình luân lí văn học cũng là xây dựng và vận dụng một phương pháp phê bình có thể giúp giới nghiên cứu thuận lợi hơn trong việc tìm ra đặc trưng của văn học Việt Nam so với các nền văn học khác trên thế giới, đặc biệt là văn học phương Tây. Phát triển phương pháp phê bình này cũng là một cách nhằm tránh rơi vào nghiên cứu văn học một cách khép kín, kinh viện, nâng cao trách nhiệm của người sáng tác, người đọc đối với các vấn đề xã hội, môi trường.

Chú thích:
[1] Chu Hiến(1984), Một vài khuynh hướng nghiên cứu văn học phương tây hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn nghệ, số 6
[2] Clayson Booth(1987), Tu từ học tiểu thuyết, Chu Hiến…dịch, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh
[3] Clayson Booth(2009), Sự phục hưng của tu từ, Mục Lôi…dịch, Nhà xuất bản Dịch lâm
[4] Nhiếp Trân Chiêu(2014), Dẫn luận phê bình luân lí học văn học, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh
[5] Nhiếp Trân Chiêu(2006), Phê bình luân lí học văn học và phê bình đạo đức, tạp chí Nghiên cứu văn học nước ngoài, số 2, tr 9
[6] Nhiếp Trân Chiêu(2006), Phê bình luân lí học văn học và phê bình đạo đức, tạp chí Nghiên cứu văn học nước ngoài, số 2, tr 11
[7] Nhiếp Trân Chiêu(2004), Phê bình luân lí học văn học: Tìm hiểu mới về phương pháp phê bình văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học nước ngoài, số 5, tr 19-20.
[8] Lawrence Buell(1999), Introduction: In pursuit of Ethics, PMLA 114, tr7-19

Đỗ Văn Hiểu
(Bài đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, số 5 năm 2016, tr 53-58)
Xem tiếp…