Vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu hình thái thể loại tiểu thuyết

04:30 |


Hiện nay, tự sự học đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu được quan tâm rộng khắp trên thế giới với những tên tuổi lớn: Shklovski, B.Tomashevski, Tz. Todorov, G. Genette, Chatman, G. Prince, Rimon-Kenan, H. Whiter…. Từ khi ra đời đến nay, tự sự học không ngừng đổi mới, phát triển, cung cấp những công cụ, phương pháp quan trọng để nghiên cứu văn học. Tự sự học phát triển qua hai thời kì (thời kì kinh điển và hậu kinh điển). Tự sự học kinh điển tập trung vào nghiên cứu cấu trúc của truyện và diễn ngôn tự sự, mối quan hệ giữa các sự kiện tạo nên truyện (tập trung vào sự kiện, nhân vật, cách kể, ngôi kể, giọng điệu, điểm nhìn, thời gian, không gian, tình huống, mô hình tự sự…). Tự sự học kinh điển đã cung cấp hệ thống khái niệm, phương pháp để không chỉ khai thác các giá trị của tác phẩm cụ thể mà còn đi sâu nhận thức hình thái kết cấu, quy luật vận động, sáng tác, phương thức biểu đạt và đặc trưng thẩm mĩ của thể loại tự sự. Thế nhưng, tự sự học kinh điển lại coi văn bản tác phẩm là một hệ thống tự thân khép kín, không có liên hệ với bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa. Tự sự học hậu kinh điển có thái độ mở và vận dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu văn học, trong khi phân tích văn bản tác phẩm đã chú ý đến độc giả và tác động của hoàn cảnh lịch sử, tiếp thu một cách có ý thức phương pháp, góc độ phê bình, phân tích của những trường phái lí luận phê bình, của các nghệ thuật khác, mở rộng cách nhìn đối với tự sự học, ở một góc độ nhất định, nó đã khắc phục được hạn chế của bản thân.

Như vậy, tự sự học chứa đựng tiềm năng phong phú trong việc nghiên cứu văn học. Dương Tinh Ánh, nữ giáo sư văn học Đại học Sư phạm Trùng Khánh và Học viện Tân Văn đã vận dụng khá thành công lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu thể loại tiểu thuyết qua công trình Hình thái thể loại tiểu thuyết Trung Quốc và phương Tây. Tác giả đã xuất phát từ phương thức tự sự và thể thức ngôn ngữ để tiến hành nghiên cứu thể loại tiểu thuyết. Đối với nghiên cứu phương thức tự sự, tác giả chủ yếu tiếp thu tự sự học kinh điển phương Tây (tiêu biểu là G.Genette), chú ý phương pháp lí luận thời gian tự sự, góc độ tự sự; khi nghiên cứu thể thức ngôn ngữ, tác giả chú ý đến phương pháp phân tích lời nhân vật và lời trần thuật. Khắc phục hạn chế của tự sự học kinh điển, tác giả đã vận dụng những gợi ý của tự sự học hậu kinh điển để nghiên cứu tiểu thuyết, chỉ ra mối liên hệ sâu sắc giữa văn bản và văn hóa lịch sử, phân tích hệ thống kí hiệu biểu đạt ý nghĩa như thế nào đồng thời làm rõ nội hàm văn hóa và hiệu quả thẩm mĩ do hệ thống kí hiệu đó biểu đạt. Vận dụng lí thuyết tự sự học, tác giả quan niệm rằng thể loại được cấu tạo bởi ba tầng: mô hình ngôn ngữ; phong cách thể loại và phong cách tác giả của tác phẩm văn học; phương thức tồn tại của văn hóa. Thể loại vừa là kết quả chế ước của văn hóa, vừa là kết quả của việc phát huy tài năng sáng tạo của nhà văn.
Trên cơ sở lí thuyết tự sự học, Dương Tinh Ánh đã khái quát bản chất của tiểu thuyết, chỉ ra hình thái đồng đại, hình thái bản thể, kết cấu tương đối cố định của nó. Từ vấn đề quan hệ giữa trần thuật và cốt truyện, không gian và thời gian có thể chỉ ra đặc trưng của tiểu thuyết. Đây cũng là một hướng nghiên cứu thể loại thú vị.
Đặc trưng hàng đầu của tiểu thuyết là sự thống nhất giữa nhân vật, cốt truyện và hoàn cảnh. Trong tiểu thuyết, không thể không có cốt truyện, cho dù hiện nay có xu hướng nhạt hóa cốt truyện thì cũng không đồng nghĩa với việc không cần, không có cốt truyện, vì tác phẩm vẫn tồn tại sự kiện, chỉ là không nhất thiết phải có mối quan hệ nhân quả mà thôi. Trong tiểu thuyết cũng không thể không có nhân vật. Xu hướng nhạt hóa tính cách hay không có tính cách cũng không đồng nhất với việc không miêu tả con người, mà chỉ là chuyển từ miêu tả bên ngoài sang miêu tả bên trong. Tự sự học kinh điển đã rất chú ý đến vấn đề cấu trúc của truyện, mối quan hệ giữa các sự kiện.
Trần thuật trở thành đặc trưng bản thể của tiểu thuyết, bao gồm phương thức biểu đạt thông tin và phương thức vận dụng ngôn ngữ. Nếu cốt truyện không phải là yếu tố riêng của tiểu thuyết thì trần thuật là một yếu tố đặc thù của nó. Trong kịch và các loại hình nghệ thuật tạo hình không có trần thuật. Chính trần thuật đã khiến những tác phẩm có cùng một cốt truyện có thể trở nên khác nhau và những đoạn trần thuật đậm chất trữ tình rất khó chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh. Từ góc độ hình thức mà nói, tiểu thuyết chính là lịch sử thiên biến vạn hóa của phương thức trần thuật. Văn bản tiểu thuyết là câu chuyện được kể hay chính bản thân hành vi kể sẽ thể hiện quá trình phát triển từ giản đơn đến phức tạp của phương thức trần thuật. Càng ngày, giới nghiên cứu càng quan tâm đến vấn đề trần thuật.
Trong tự sự học kinh điển, tiêu biểu là G.Genette, vấn đề thời gian trong tác phẩm rất được quan tâm. Ông đã đề cập đến: thời gian không trùng khít, thời gian trùng khít, thời gian trần thuật không tương ứng với thời gian sự kiện, trần thuật tỉnh lược hoặc bỏ qua thời gian sự kiện; trần thuật theo trật tự thời gian vật lí, trần thuật không theo trình tự thời gian, trần thuật đơn tính, trần thuật trùng phức, trần thuật tổng hợp… Xuất phát từ cơ sở lí luận đó, Dương Tinh Ánh khẳng định tiểu thuyết mang bản chất thời gian, nó lấy kí hiệu mang tính thời gian làm phương tiện (ngôn ngữ) và lấy văn bản thời gian làm nội hàm (cốt truyện). Sự miêu tả trong tiểu thuyết thực ra là sự miêu tả – trần thuật, không phải là trình hiện lên trên mặt phẳng hay hình khối mà là triển khai trong dòng thời gian.
Khi nghiên cứu bản chất của tiểu thuyết, tác giả cũng chú ý đến vấn đề không gian. Bản chất của hình thái không gian trong tiểu thuyết thực chất là sự xử lí thời gian, thông qua miêu tả sự bài trí nhằm khắc phục tính tuần tự của kí hiệu ngôn ngữ và quá trình sự kiện, tạo nên không gian ba chiều. Sự chuyển dịch liên tục của không gian cũng thể hiện tiến trình thời gian.
Hình thái cụ thể của tiểu thuyết nằm ở văn bản, thông qua phương thức trần thuật và thể thức ngôn ngữ của văn bản mà hiện ra. Kế thừa sâu sắc lí thuyết tự sự học, Dương Tinh Ánh đã lí giải văn bản tự sự xuất phát từ mô hình tự sự và phương pháp, biện pháp cụ thể kiến tạo mô hình đó. Tác giả đã khái quát trần thuật của tiểu thuyết xưa nay thành các mô hình chủ yếu: mô hình cốt truyện – tính cách, tâm lí – tinh thần, ẩn ý – tượng trưng, thi tình – ý cảnh. Mỗi mô hình trần thuật thực ra là do việc nghiêng sang dùng một loại thủ pháp, phương pháp cụ thể nào đó. Ngoài ra, tác giả cũng chú ý đến vấn đề góc độ trần thuật bao gồm điểm nhìn trần thuật và lời văn trần thuật.
Khi nghiên cứu thể loại tiểu thuyết, không thể không nghiên cứu ngôn ngữ. Kết cấu trần thuật, ý đồ trần thuật thể hiện ở câu, đoạn, chương, cho nên, khi phân tích kết cấu trần thuật của văn bản là phân tích lời văn trần thuật của tác phẩm, vì thế, trên bề mặt, kết cấu trần thuật tương ứng với kết cấu ngôn ngữ. Nghiên cứu thể loại cũng phải nghiên cứu đặc trưng ngữ âm, từ vựng, cú pháp, cách viết, phương tiện liên kết, chú ý đến lời nhân vật và lời trần thuật (lời dẫn trực tiếp, lời dẫn gián tiếp, lời dẫn trực tiếp tự do, lời dẫn gián tiếp tự do; các loại hình ngôn ngữ). Không những thế, tác giả còn chú ý đến sự thay đổi thẩm mĩ của ngôn ngữ trong văn bản tiểu thuyết, xem sự thay đổi này nảy sinh như thế nào, nghiên cứu cái gì thì sẽ thấy được điều đó. Tác giả đã xuất phát từ ngữ nghĩa, ngữ dụng, thủ pháp, ngữ pháp, ngữ cảnh và chỉ ra những kiểu thay đổi thẩm mĩ: phụ gia ý nghĩa, phá vỡ quy tắc ngữ pháp, vận dụng biện pháp tu từ, khai thác tính tự chỉ của kí hiệu ngôn ngữ…
Thể loại tiểu thuyết không chỉ có hình thái đồng đại mà còn có hình thái lịch đại. Dựa trên sự biến đổi của những đặc điểm bản thể, chúng ta có thể thấy được xu hướng vận động, phát triển của hình thái tiểu thuyết từ manh nha đến trưởng thành, sau đó ổn định tương đối rồi lại biến đổi đa dạng trong mối quan hệ với văn hóa xã hội. Vận dụng Tự sự học hậu kinh điển, tác giả đã làm cho hình thái thể loại tiểu thuyết hiện lên một cách toàn diện. Dương Tinh Ánh đã căn cứ vào sự vận động biến đổi của phương thức trần thuật để chỉ ra sự vận động của hình thái thể loại tiểu thuyết. Chẳng hạn, ở phương Tây từ trung thế kỉ đến thế kỉ 18, tiểu thuyết chuyển từ chú trọng cốt truyện sang khắc họa nhân vật, miêu tả tình tiết, hoàn cảnh. Đến thế kỉ 19, với Đôtxtôiepxki, không gian trần thuật được khai phá, người trần thuật biết hết vị phá vỡ, sử dụng điểm nhìn đa chiều, chuyển từ miêu tả bên ngoài sang miêu tả bên trong nhân vật… Vấn đề không gian trong tiểu thuyết đã được quan tâm từ xưa nhưng phải đến chủ nghĩa hậu hiện đại mới xuất hiện vấn đề không gian hóa trần thuật, xáo trộn, xen kẽ các loại không gian (chuyển từ miêu tả tuần tự sang lắp ghép, phiến đoạn) nhằm thể hiện sự phức tạp đa chiều của cuộc sống và biểu hiện chỉnh thể thống nhất. Mặc dù có nét tương đồng, nhưng do nảy sinh trong những điều kiện lịch sử, văn hóa xã hội khác nhau, nên hình thái lịch đại của tiểu thuyết Trung Quốc và phương Tây vẫn có những nét khác biệt, khác biệt không chỉ ở cội nguồn lịch sử thể loại tiểu thuyết mà còn cả trong quá trình hình thành, kiến tạo thể loại.
Như vậy, công trình Hình thái thể loại tiểu thuyết Trung Quốc và phương Tây của Dương Tinh Ánh đã cho thấy một kinh nghiệm trong việc vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu thể loại tiểu thuyết. Tự sự học là một chuyên ngành nghiên cứu văn học đang không ngừng vận động, mở rộng phát triển, vì thế, khi vận dụng, phải sàng lọc, kết hợp những ưu điểm của nó trong suốt quá trình lịch sử thì mới có thể có thành tựu. Trong công trình này, tác giả đã ứng dụng lí thuyết về mô hình tự sự để khái quát mô hình trần thuật của tiểu thuyết một cách khá thuyết phục, đồng thời, theo tác giả, sự vận động, phát triển của các mô hình tự sự là một cơ sở quan trọng chỉ ra sự vận động phát triển của tiểu thuyết, cơ sở chỉ ra hình thái lịch đại của nó.
Khi chúng ta cầm một văn bản tiểu thuyết trên tay, nếu như chúng ta chỉ dựa vào trực cảm thẩm mĩ của mình thì chúng ta thoải mái ngao du trong thế giới hình tượng, nhưng nếu như chúng ta bình luận những ưu nhược của nó thì tất yếu phải phân tích nội hàm thẩm mĩ, đồng thời phải phân tích hình thái thể loại. Hình thái cụ thể của văn bản tiểu thuyết thể hiện ở văn bản, thông qua phương thức tự sự và thể thức ngôn ngữ mà hiện ra. Phân tích cách trần thuật của văn bản tiểu thuyết, có thể xuất phát từ mô hình tự sự và thủ pháp cụ thể của việc kiến tạo mô hình, mô hình chủ yếu của trần thuật trong tiểu thuyết gồm: mô hình cốt truyện – tính cách, mô hình tâm lí – tinh thần, mô hình cảm giác – ý tượng, mô hình ẩn – ý tượng trưng, mô hình thi tình – ý cảnh.(…)
           Mô hình cốt truyện – tính cách
Trong mô hình này, khuynh hướng tình cảm thẩm mĩ và hiện thực khách quan có sự tương ứng, lấy thế giới nghệ thuật hư cấu để biểu đạt thể nghiệm đối với thế giới hiện thực. Vì thế, bất kể là sự kiện hay là nhân vật đều dựa vào việc và người trong thế giới hiện thực khách quan, lấy quan hệ nhân quả của sự kiện và quan hệ nhân quả của hành động nhân vật để phản ánh tính quy luật của thế giới hiện thực. Do đó, cốt truyện của tiểu thuyết thể hiện quan hệ nhân quả của sự kiện và lịch sử tính cánh nhân vật (vì hành động nhân vật quyết định tính cách nhân vật). Mô hình này nghiêng sang khắc họa sự li kì gấp khúc của cốt truyện và tính cách nhân vật. Tác phẩm tự sự xa xưa chú trọng biểu hiện tính truyền kì của cốt truyện. Trần thuật của tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết võ hiệp đều dựa vào tình tiết li kì hấp dẫn chứ không tập trung vào việc khắc họa tâm lí nhân vật để từ đó phản ánh tính chất, quy luật của cuộc sống, thức dậy sự phản tỉnh trong lòng người đọc. Trong tác phẩm thuộc những loại hình này, cốt truyện trở thành hạt nhân, thành mục đích của sáng tác, nhân vật chỉ là hoặc chủ yếu là công cụ trang sức, dẫn dắt tình tiết của truyện, mục đích thẩm mĩ của tác phẩm là thông qua sự sắp xếp tình tiết lúc căng lúc chùng, biến hóa phong phú làm thỏa mãn tâm lí hiếu kì đối với sự kiện li kì hấp dẫn. Tình tiết càng li kì, càng mang lại hứng thú thẩm mĩ, loại mĩ cảm này chuyển hóa thành tâm thế vui vẻ, thanh thản, thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi vui vẻ của độc giả, đúng như Kim Thánh Thán đã từng nói: “không nguy hiểm thì không vui, càng nguy hiểm càng vui”.  Cho nên, nhân vật của loại tác phẩm này thường được mô hình hóa, bối cảnh xã hội cũng thường được làm mờ đi yếu tố thực. Thế nhưng, trong tiểu thuyết Trung Quốc từ thế kỉ 17, phương Tây từ thế kỉ 18 trở về sau, việc khắc họa tính cách nhân vật trở thành hạt nhân, thành tiêu chí đánh giá sự phát triển của tiểu thuyết, đã thay thế tính li kì của bản thân sự kiện. Đây là loại mô hình rất điển hình trong tiểu thuyết của chủ nghĩa hiện thực, sự kiến tạo của nó được dựa trên 3 nhân tố cốt truyện, tính cách, hoàn cảnh, xu hướng thẩm mĩ của nó trải qua quá trình chuyển hóa từ cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh đến cốt truyện, tính cách, hoàn cảnh điển hình. Phương thức tự sự của nó chuyển hóa từ trần thuật đơn nhất từ ngôi thứ 3 biết hết sang trần thuật nhiều điểm nhìn hoặc sự đan xen của các loại điểm nhìn: trần thuật từ ngôi thứ nhất, từ ngôi thứ 3 không biết hết, ngôi thứ 3 biết hết, chuyển hóa từ trần thuật theo trật tự thời gian sang trần thuật theo nhiều loại thời gian: trần thuật đảo lộn trật tự thời gian, trần thuật tuần tự…
Điều mà mô hình tự sự này chú trọng và phản ánh là sự quy định của quy luật khách quan của sự phát triển xã hội đới với sự kiện và tính cách, thường giảm bớt sự khám phá thế giới nội tâm nhân vật, đặc biệt là tiềm thức; lược bỏ những nhân tố ngẫu nhiên, và chính vì thế mà làm mất đi sự sinh động của bản thân cuộc sống. Những tác phẩm thuộc mô hình này thường chú trọng sự phát triển tuyến tính trong việc phản ánh hiện thực, trong khi đó bản thân cuộc sống là một hình lập thể, vô cùng phong phú, phức tạp. Trong cuộc sống, có khi có những nhân tố ngẫu nhiên có thể cải biến quá trình sự kiện hoặc vận mệnh con người, có khi có rất nhiều yếu tố mơ hồ hỗn độn, rất khó nói ra một cách rõ ràng, đúng sai rất khó phán đoán. Mô hình cốt truyện – tính cách đã khuôn đúc hóa cuộc sống, làm cho nó trở nên tĩnh, làm mất đi tính nhiều mặt của cuộc sống. Đặc biệt là tiểu thuyết bạch thoại cổ điển Trung Quốc, do xuất phát từ nghệ thuật thuyết sách, nên càng chú trọng tuyến tính, chú trọng khắc họa cốt truyện và nhân vật, hoàn cảnh bị lược đi rất nhiều. Nhưng cùng với sự đa dạng hóa quan niệm về giá trị, cách nhìn về cuộc sống, ảnh hưởng của triết học phi lí hiện đại, của quan niệm văn học hiện đại, sự thay đổi quan niệm trần thuật của tiểu thuyết mà mô hình tự sự mới cũng xuất hiện. Do đó, mô hình cốt truyện – tính cách cũng có sự thay đổi nhất định.
          Mô hình tâm lí – tinh thần
Đại biểu mở đầu và điển hình của mô hình này là tiểu thuyết dòng ý thức ở phương Tây hiện đại. Dưới sự chỉ đường của triết học, tâm lí học hiện đại phương Tây, đặc biệt là  William James 1842—1910, nhà triết học, tâm lí học người Mĩ đã đề xuất hoạt động ý thức là một “dòng ý thức”, phi lí tính, phi logic; Freud với phát hiện về tiềm thức, vô thức… Vì thế, trong trần thuật thường lấy sự thâm nhập vào huyễn tưởng, ảo giác, liên tưởng, giấc mơ, hồi ức… để biểu đạt dòng ý thức và vô thức hỗn loạn… Tiểu thuyết dòng ý thức phương Tây thường biểu hiện sự xung đột giữa tiềm thức và bản năng con người, những điều đó được biểu hiện trên hoạt động tâm lí ở bình diện ý thức và vô cùng phức tạp, suy nghĩ không rõ ràng… tất cả làm hiện lên thế giới tâm lí phức tạp của nhân vật, khiến cho hình tượng nhân vật chuyển từ hoàn toàn dựa vào quan hệ nhân quả khách quan bên ngoài sang xây dựng dựa trên sự vận động của dòng ý thức trong thế giới nội tâm, tiêu biểu là tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất của M.Prust. Liên quan đến phương thức kết cấu này là sự thay đổi ngôn ngữ trần thuật. chuyển từ ngôn ngữ trần thuật tầng bậc bằng phẳng sang ngôn ngữ trần thuật có tính nhảy vọt, nhấn mạnh sắc thái cảm xúc, tinh thần, tiết tấu tình cảm, thậm chí là ngôn ngữ tản mạn phi logic để biểu đạt sự hỗn độn, nhảy cóc của dòng ý thức.
           Mô hình cảm giác – tượng trưng
Lấy tượng trưng để biểu hiện cảm giác trực quan đối với sự vật, chú trọng hoàn cảnh, giản lược tình tiết cốt truyện là đặc trưng văn bản của tiểu thuyết chủ nghĩa cảm giác mới Nhật Bản. Tuy tác phẩm vẫn có khung tình tiết nhưng nhà văn chú trọng khắc họa không phải là mối quan hệ nhân quả của sự kiện, mà là cảm giác trực quan. Chiến tranh thế giới thứ nhất, cơn địa chấn Quan Đông và thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga đã đẩy xã hội Nhật Bản vào xung đột kịch liệt, điều đó tạo ra cảm giác bất an cho con người, tạo nên tâm lí tiêu cực, tuyệt vọng, từ đó mà theo đuổi hưởng thụ kích thích giác quan, theo đuổi những thứ phi hiện thực trong cuộc sống hàng ngày. Điều này phản ánh vào văn học tạo thành xu hướng hoài nghi, đi ngược lại truyền thống cũ. Trào lưu văn nghệ hiện đại chủ nghĩa Âu Mĩ lan cung cấp phương pháp luận cho các nhà văn Nhật Bản. Nét mới trong nghệ thuật của phái Cảm giác mới thể hiện ở: nắm bắt biểu tượng sự vật một cách trực quan, vận dụng phương thức biểu đạt cảm tính, vận dụng từ ngữ tân kì hoa mĩ, khắc họa sự tinh tế, phức tạp của tâm lí, biểu hiện cảm giác của con người trong khoảnh khắc thời gian. Trường phái cảm giác mới vận dụng thủ pháp tượng trưng và ám thị, thông qua cảm giác để biểu thị quan hệ giữa người với người và biểu hiện giá trị cuộc sống. Họ vô cùng coi trọng miêu tả cảm giác chủ quan. Trong sáng tác của họ, cảm giác mới là nhân vật chính, biểu đạt sự tạo thành ý tượng cảm giác mới là mục tiêu của văn bản, trần thuật văn bản thực chất là dựa vào cảm giác – ý tượng để kiến tạo, lược bớt trần thuật tình tiết.
              Mô hình ẩn ý – tượng trưng
Tượng trưng là lấy hình tượng cụ thể riêng biệt để biểu hiện hoặc ám thị một quan niệm, triết lí, tình cảm. Trong lĩnh vực tiểu thuyết, hình tượng riêng biệt hoặc hệ thống hình tượng trong văn bản một bộ tiểu thuyết có thể là tượng trưng cho một quan niệm, một triết lí. Ví dụ như tác phẩm Bảo thành của F.Kafka, Bảo Thành không bao giờ tới được tượng trưng cho ranh giới tồn tại của con người. Cũng có thể lấy ý tượng đặc thù để tổ chức hệ thống hình tượng tiểu thuyết, nhưng bản thân ý tượng cũng là tượng trưng cho ý niệm, triết lí hoặc tình cảm. Ví dụ như Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, cao lương đỏ là tượng trưng cho sinh mệnh dũng mãnh, đầy sức sống của những bậc tiền bối. Tượng trưng trở thành trung tâm của hệ thống hình tượng, sự kiện, thành sợi dây tổ chức sự kiện, hình tượng, tượng trưng có ẩn ý phong phú. Mô hình trần thuật này cũng lại phân thành “tượng trưng chỉnh thể”, tượng trưng ý tượng”, tượng trưng tinh thần”.
Tượng trưng chỉnh thể chỉ tác phẩm trở thành một quan niệm lớn, bao trùm một triết lí, sự miêu tả nhân vật, sự kiện của nó bị quy định, dẫn dắt bởi quan niệm, triết lí đó. Ví dụ tác phẩm Bảo thành, Thẩm phán của F.Kafka, sự kiện của tác phẩm tập trung để tạo nên một tượng trưng thống nhất, không nhất định phải có sự tương ứng với hiện thực cuộc sống, mà thường có ẩn ý siêu thời gian, siêu không gian. Còn có một kiểu tượng trưng chỉnh thể khác, ẩn ý của nó có được do hệ thống hình tượng biểu hiện ra, ví dụ như Vi thành của Tiền Trung Thư, Hồ điệp của Vương Mông…Sự gặp gỡ của những con người trong Vi thành tượng trưng cho trạng thái tù túng, phức tạp của cuộc sống và hôn nhân. Tượng trưng của Hồ điệp là câu chuyện Trang Chu nằm mơ thấy mình hóa bướm, không biết Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu.
Tượng trưng ý tượng, tác phẩm có một ý tượng xuyên suốt làm tượng trưng, ý tượng này thấm vào hệ thống hình tượng của tác phẩm, dẫn dắt tổ chức kết cấu nhân vật, sự kiện, ví dụ như Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, Bức tường của Vương An Ức. Trong Bức tường, bức tường đã phân khu dân cư thành 2 thế giới, những người sống ở trung khu 501 bên trái bức tường là những giáo sư, bác sĩ, nhà tư bản, nhạc sĩ, diễn viên, trong khu đó thường tràn ngậm hương thơm và đủ loại âm nhạc. Những người sống ở khu 499, bên phải bức tường là những công nhân, thợ cắt tóc, người hát rong, cán bộ khu dân cư, trẻ con thường chạy lung tung, người lớn thường cãi nhau. Bức tường trở thành tượng trưng cho sự ngăn cách giữa hai thế giới. Bức tường chỉ dẫn cho trần thuật, đem ghép cảnh sống ở hai bên bức tường lại tạo nên thế đối sách gay gắt, kịch liệt…
Tượng trưng tinh thần, ý tượng mang tính tượng trưng trong tiểu thuyết không phải hướng tới hàm nghĩa triết lí hay quan niệm mà nằm ở khơi gợi, thức dậy tình cảm, hoặc ý tưởng nào đó. Ví dụ tương đối điển hình là Chiếc diều giấy của Vương Mông. Trần thuật của văn bản này giống như tản ra để nhìn thấu, những phiến đoạn về cuộc sống, công việc, bạn trai của Phạm Tố Tố được tổ chức lại một cách rời rạc, diều giấy là tượng trưng cho tuổi ấu thơ và sức sống thanh xuân thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện liên tục trong thế giới nội tâm nhân vật, cuối cùng khiến Phạm Tố Tố thoát ra ra khỏi sự mệt mỏi chán chường, thức dậy tinh thần phấn đấu vươn lên.
         Thi tình – ý cảnh
Còn có một loại tiểu thuyết được tản văn hóa, giàu chất thơ, thậm chí là có ý cảnh. Sở dĩ gọi là tản văn hóa là vì tác phẩm không có tình tiết hoàn chỉnh hoặc là không lấy việc thể hiện quan hệ nhân quả của sự kiện làm mục đích, mà là hướng tới việc miêu tả nhân tình thế thái và phong tục tập quán một cách đầy chất thơ, đầy ngụ ý, thậm chí còn tạo ra ý cảnh mênh mang, sâu thẳm vượt lên trên sự vật bên ngoài. Điều mà loại tác phẩm này kế thừa là truyền thống văn hóa cổ đại Trung Quốc: cách viết đầy hàm ý của thơ ca, tiểu phẩm văn xuôi, tiểu thuyết ghi chép…Cách viết phóng khoáng tùy theo ý tứ, cảm xúc như nước chảy mây bay, vì thế mà sự tinh tế, giản lược là đặc điểm nổi bật trong trần thuật của loại tiểu thuyết này, ví dụ như Biên thành của Thẩm Tùng Văn…
Loại tiểu thuyết này tuy cũng có một khung trần thuật sơ lược được tạo nên từ sự kết hợp giữa phiến đoạn sự kiện và phác họa về nhân vật, nhưng trọng điểm không phải là tổ chức tình tiết và xây dựng hình tượng nhân vật, chỉ là mượn phiến đoạn sự kiện và phác họa về nhân vật để vẽ ra bức tranh phong tục vì thế mà miêu tả hoàn cảnh trở thành mục đích và trọng điểm, hơn nữa, những hoàn cảnh này thường đậm chất thơ.
Điều mà loại tiểu thuyết này tập trung vào là mở rộng đến cực độ tính thơ của ngôn ngữ văn học, nhà văn viết tiểu thuyết giống như viết tản văn, viết thơ, vẻ đẹp hình thức ngôn ngữ được bộc lộ đến tận độ. Ngôn ngữ được trau chuốt tinh tế mà đậm chất thơ đã tạo nên tình điệu, không khí, thế giới riêng cho tác phẩm.
Sự phân chia mô hình tự sự trên chỉ là tương đối. Các phương pháp trần thuật của các mô hình thường giao nhau, việc chia ra thành các mô hình tự sự như vậy chỉ là dựa trên phương diện chủ đạo mà nói, chứ không phải là tuyệt đối, ví dụ như mô hình Cảm giác – ý tượng và mô hình ẩn ý – tượng trưng thường đều cần cách miêu tả ý tượng, chỉ là một bên nghiêng sang lấy cảm giác, một bên nghiêng sang lấy tượng trưng để tổ chức trần thuật… Có thể nói, mô hình tự sự của tiểu thuyết là hình thái nghệ thuật luôn vận động, phát triển, không khép kín.
Đỗ Văn Hiểu
(Bài viết đã in trong Tự sự học tập 2, Nxb Nxb Đại học Sư phạm, 2008)
Tài liệu tham khảo
  1. Dương Tinh Ánh: Hình thái thể loại tiểu thuyết Trung Quốc và phương Tây (Nxb KHXH Trung Quốc, 2005) (杨星映著:《中西小说文体形态》, 中国社会科学出版社, 2005)
Xem tiếp…

Tầm cao của chiến tranh phương Đông (Diêm Liên Khoa nói về Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh)

22:44 |
Cứ như năm ngoái hoa nở, năm nay chúng ta mới ngửi thấy hương thơm. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Việt Nam Bảo Ninh xuất bản từ năm 1990, mãi đến hôm nay sau 25 năm, mới được dịch và giới thiệu ở Trung Quốc, quả thực không khỏi có chút cảm giác: bất luận cây lê nhà hàng xóm có kết trái to đến mấy cũng chỉ là một trái táo nhỏ tầm thường, còn với văn học Âu Mỹ, cho dù chỉ là một quả nho, cũng có thể nhanh chóng tỏa mùi đào mùi lê ở Trung Quốc thật không chỉ khiến người ta cảm thấy buồn cười mà còn thấy hợp lý.
Sự đến muộn của nó, đối với Bảo Ninh, đối với Nỗi buồn chiến tranh đều không làm ảnh hưởng đến thành tựu và vị trí vốn có của tác gia và tác phẩm; mà bị ảnh hưởng là văn học Trung Quốc, nhất là sáng tác và sáng tác của văn học quân đội Trung Quốc.
Tôi với tư cách là một tiểu thuyết gia đã có đến 26 năm trong quân đội, đọc xong tiểu thuyết này, cảm giác mãnh liệt nhất, đó chính là giả sử ngay từ cuối những năm 80 hoặc muộn hơn một chút vào đầu những năm 90, chúng ta có thể dịch Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Trung giống như Vòng hoa dưới núi của nhà văn Trung Quốc Lý Tồn Bảo vừa xuất bản hồi đầu những năm 80 đã gần như đồng thời được dịch sang tiếng Việt, thì nhận thức của chúng ta đối với văn học Việt Nam sẽ không đến nỗi phong bế và hạn hẹp như hôm nay; văn học quân đội Trung Quốc cực kỳ cũ kỹ và trì trệ hôm nay cũng nhất định sẽ không bảo thủ, bó chân và tụt hậu như vậy. Thậm chí có thể nói, nếu như có thể kịp thời dịch và giới thiệu Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, văn học quân đội Trung Quốc ngày ấy và bây giờ đều rất có thể đã mang một cảnh sắc và sinh khí khác.
Nghiền ngẫm Nỗi buồn chiến tranh với tư cách là một tiểu thuyết chiến tranh phương Đông trong bối cảnh văn học thế giới và so sánh nó với dòng văn học chiến tranh mà chúng ta có thể đọc được của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, rõ ràng Nỗi buồn chiến tranh đánh dấu tầm cao của một thứ văn học mới. Một tác phẩm cực hiếm của một nhà văn châu Á phương Đông, hiếm có trong những miêu tả, nhận thức, phê phán thẩm mĩ đối với chiến tranh, hiếm có trong những lý giải và tình yêu đối với con người, những suy tư về nhân tính, hiếm có cả trong biểu đạt nghệ thuật – một phương diện cá tính nhất, quan trọng nhất đối với một nhà văn.
So sánh với văn học quân đội Trung Quốc hay đơn thuần là tiểu thuyết chiến tranh Trung Quốc, thì trong khi chúng ta tôn thờ chủ nghĩa anh hùng như một đấng thiên thần của văn học quân đội thì Bảo Ninh của Việt Nam đã coi bản tính của con người và bản thân sự sống là thần thiêng của sáng tác; thì ra, ở một đất nước có chế độ giống chúng ta, cùng đọc và hấp thụ dưỡng chất cao cả trong văn học quân đội của Nga (Liên Xô cũ), Bảo Ninh đã vượt qua đồng thời hy vọng đưa tác phẩm của anh giao lưu và đối thoại với sáng tác về chiến tranh của văn học thế giới; trong khi sáng tác về chiến tranh của chúng ta cho đến hôm nay vẫn còn dở dang ở hành trình “văn học quân sự cách mạng Liên Xô” của 70 năm về trước thì Bảo Ninh từ cách đây 25 năm đã đến từ con đường ấy rồi cũng từ con đường ấy vượt qua nó chỉ trong một bước chân. Sự vượt thoát ấy, không chỉ trong cốt truyện, nhân vật, tình tiết và miêu tả đối với chiến tranh, mà chủ yếu ở chỗ, anh đã đặt chiến tranh vào số phận của cả nhân loại để nhận thức về nó và về con người.
Đối với nhà văn Trung Quốc, cái mà chúng ta thiếu trong sáng tác về chiến tranh không phải là kỹ xảo, kỹ thuật, kinh nghiệm hay ngôn ngữ và xúc cảm mà là những suy ngẫm về chiến tranh và số phận con người; là tình yêu trong chiến tranh đối với tất cả mọi người trong đó có cả “kẻ thù” của chúng ta. Là bản thân cái biên giới rộng hay hẹp của tư duy văn học. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta không thể thực sự mở tung và thoát khỏi xiềng xích truyền thống mà văn học chiến tranh kinh điển như Tam quốc diễn nghĩa đã để lại, đồng thời cũng không thể thoát khỏi vầng hào quang lóa mắt của ý thức cao cả trong văn học quân đội Liên Xô. Cũng chính vì lẽ đó, sự đến muộn của Nỗi buồn chiến tranh đã khiến văn học quân đội Trung Quốc bỏ lỡ một thời kỳ hấp thu đẹp nhất trong những năm 80-90 của thế kỷ trước.
Song, sự có mặt của Nỗi buồn chiến tranh ngày hôm nay vẫn có thể khiến cho những nhà văn và độc giả mẫn cảm và khiêm nhường của Trung Quốc ý thức được sự giàu có và đa dạng của văn học Việt Nam, ý thức được ý nghĩa phổ quát của văn học cũng như độ cao của văn học chiến tranh phương Đông mà  Nỗi buồn chiến tranh đã đạt tới.
Tầm cao ấy khiến cho chúng ta nhớ đến những tiểu thuyết có liên quan đến chiến tranh đến từ phương Tây những năm gần đây, được dư luận ca ngợi và bán chạy trên thị trường là  Người đua diều1 và  Người đọc2. Hai tiểu thuyết này, bất luận về kĩ xảo sáng tác của cá nhân nhà văn hay sự thể nghiệm cuộc đời đối với sự khốc liệt của chiến tranh và thân phận con người đều không thể so với Nỗi buồn chiến tranh về độ trực diện và phong phú.
Giá trị hơn người nhất của Nỗi buồn chiến tranh, cũng là chỗ được chú tâm làm nổi bật nhất, đó chính là: tác giả bất luận miêu tả chiến tranh như một bức họa sơn dầu của Francisco de Goya hay cảm nhận về cỏ cây tinh tế hiếm có đối với thiên nhiên rừng mưa nhiệt đới của Việt Nam, hay miêu tả nội tâm của Kiên, Phương, người đàn bà câm, cô y tá, Thịnh, Từ, Can,… như một lũ con rơi của cuộc đời; tất cả dường như đều nhằm biểu đạt sự rên xiết trong huyết lệ cho thân phận con người trong chiến tranh.
Song điều khiến tôi kinh ngạc trong tiểu thuyết này, không chỉ là sự tàn khốc của chiến tranh cũng như sự hủy diệt của nó đối với tâm hồn con người, mà còn là cách thức xử lý hình thức nghệ thuật trong văn bản tiểu thuyết – tức phương pháp sáng tác tiểu thuyết: sáng tác của nhà văn Bảo Ninh và sáng tác của nhân vật chính của tiểu thuyết – Kiên, câu chuyện chiến tranh về Kiên và các nhân vật khác mà Bảo Ninh kể, câu chuyện về thân phận trong tiểu thuyết mà Kiên sáng tác cho đến cả việc đọc và sắp xếp cuốn tiểu thuyết trong tiểu thuyết của người viết ở cuối tác phẩm, tất cả tạo nên một cốt truyện ghép mảnh và sáng tác chồng xếp, khiến cho Nỗi buồn chiến tranh đạt đến kết cấu gấp hộp một cách vô cùng thành công.
 
Chính lối tự sự có thể gọi là kết cấu gấp hộp này đã làm cân bằng và trì hoãn một cách hầu như hoàn mĩ đối với sự mạo hiểm của tính trữ tình quá độ trong cốt truyện tiểu thuyết, khiến cho phong cách trữ tình và nghị luận kiểu sân khấu kịch trong văn học truyền thống phương Đông trở thành thứ màu sắc phương Đông trong văn học thế giới (tính trữ tình trong tiểu thuyết của Yasunari Kawabata cũng có màu sắc này).
Do chỗ thiếu thốn về sự đọc đối với văn học Việt Nam, tôi cứ nghĩ mãi về cái lối trữ tình đầy mạo hiểm trong Nỗi buồn chiến tranh, nó có nguồn cội từ đâu, nó là do tác giả đã kế thừa từ thời thi ca phát triển đến đỉnh cao trong văn học cổ Việt Nam, hay nó được nuôi dưỡng từ địa lí, thiên tượng của khí hậu rừng mưa nhiệt đới ở đất nước này, giống như những sáng tác của nhà văn miền Nam Trung Quốc bao giờ cũng tinh tế, mềm mại và ẩm ướt hơn các nhà văn miền Bắc, hay đó thuần túy chỉ là những xúc cảm và chất thơ trong khí chất cá nhân của Bảo Ninh?
Tóm lại, lối trữ tình miên man lan tràn và “lâm bệnh trọng/ nguy kịch” đã tạo nên khí chất cũng như sự mạo hiểm của tự sự trong tiểu thuyết này, nhưng trữ tình vừa đến độ tràn bờ thì may thay, luôn là lối tự sự chồng xếp túi hộp phương Đông của Bảo Ninh đã trì hoãn kéo nó khỏi trượt rơi, từ đó khiến cho trữ tình đạt đến một vẻ đẹp “phục hồi/ thuyên giảm”.
Cũng vì thế, kết cấu của Nỗi buồn chiến tranh càng khiến tôi nảy sinh một cảm kích thẩm mĩ. Sau khi đọc một mạch hết Nỗi buồn chiến tranh, ý nghĩ đầu tiên chợt nảy ra trong tôi lại là, giả sử bộ tiểu thuyết này không phải ra đời ở Việt Nam, thứ tiếng mẹ đẻ đã đem lại sinh mệnh cho tiểu thuyết này không phải là tiếng Việt mà là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức,… không biết liệu nó sẽ được ngợi ca rầm rộ như thế nào trên thế giới? Liệu có thể vì một sự vượt thoát nào đó trong sáng tác mà bị cấm không? Hay sẽ được ưu ái bao vây bởi tới tấp những giải thưởng? Vậy nên, gấp sách lại, tôi bỗng khát khao vô hạn được đọc tiếp những tiểu thuyết và sáng tác khác của nhà văn phương Đông này.
Tôi cứ nghĩ, một nhà văn đã viết nên một tác phẩm như Nỗi buồn chiến tranh ở cái tuổi 38, liệu sau đó anh ta sẽ lại viết gì đây? Với tài hoa, trải nghiệm và sức cảm ngộ của anh với văn học, cho dù cả đời anh chỉ dồn sức viết về đề tài chiến tranh Việt – Mỹ hay đề tài quân đội Việt Nam như nhà văn Mỹ Tim O’Brien, anh cũng có thể dễ dàng viết nên những tiểu thuyết vượt lên chiến tranh, vượt lên phương Đông, xuất phát từ chiến tranh nhưng lại khiến cho người đọc và phê bình đều quên đi chiến tranh, quên đi biên giới như Phía Tây không có gì lạ, Catch-22, Đại úy Pantaleón Pantoja và nhiệm vụ bí mật, Hạ chí tuyến, Viên tướng của đạo quân chết,3… Và như thế, trong chờ đợi, tôi chân thành bày tỏ lòng kính trọng tự đáy lòng đối với sáng tác của Bảo Ninh, văn học Việt Nam và dịch giả.
Thầm nghĩ, nếu không có những người như Hạ Lộ kiên trì gian khổ dịch thuật, nhận thức về văn học Việt Nam của chúng ta hôm nay vẫn còn dừng lại ở những kí ức đông cứng và cũ kĩ của mấy mươi năm trước, vẫn tưởng rằng trên thế gian này, ngoài mấy cây bút lông và cả rừng bút sắt của hai nền phú hộ là Trung Quốc và phương Tây kia ra, thế giới không đâu còn bút nghiên giấy mực gì nữa. Cũng nhân đây, cho phép tôi bày tỏ sự áy náy và hổ thẹn, vì để cho tiện, cũng đã hẹp hòi như ai, đặt Nỗi buồn chiến tranh vào trong dòng tiểu thuyết chiến tranh của phương Đông để mà trình bày và so sánh. Bởi lẽ bất luận từ góc độ nào, Nỗi buồn chiến tranh cũng đều vượt lên và tràn ra khỏi những ý nghĩa đó, cũng đều là một sáng tác hiếm có của châu Á trong văn học thế giới.
Diêm Liên Khoa (Yan Lianke) là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc. Ông được trao gần 30 giải thưởng uy tín trong nước và quốc tế, trong đó có những giải thưởng danh giá như Lỗ Tấn, Lão Xá, Hoa ngữ quốc tế Hoa Tung, Franz Kafka,...; sách của ông được dịch và xuất bản hơn 20 nước trên thế giới. Năm 2015, bản dịch tiểu thuyết Kiên ngạnh như thủy của ông do Nguyễn Thị Minh Thương chuyển sang tiếng Việt được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội ở hạng mục dịch thuật.
Bài viết Tầm cao của văn học chiến tranh phương Đông được Diêm Liên Khoa viết thay Lời giới thiệu bản dịch tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Trung, in từng phần trên tạp chí Thiên nhai [Chân trời], Hội Nhà văn tỉnh Hải Nam từ tháng 11/2015.  Ra đời từ 1996, tạp chí này hiện đã trở thành một tạp chí quan trọng của giới tư tưởng, văn hóa Trung Quốc.
Tia Sáng (Thiên Thai dịch)Nguồn: http://tiasang.com.vn/-van-hoa/tam-cao-cua-van-hoc-chien-tranh-phuong-dong-9649
-----------
1 Tiểu thuyết của nhà văn Afghanistan hiện sống tại Mỹ Khaled Hosseini. Bản dịch sang tiếng Việt do Nguyễn Bản chuyển ngữ. Xem Người đua diều, Nhã Nam & Nxb Phụ nữ, 2007 (tái bản 2013). Mọi chú thích trong bài đều của người dịch.
2 Tiểu thuyết của nhà văn Đức Bernhard Schlink. Bản dịch sang tiếng Việt do Lê Quang chuyển ngữ. Xem Người đọc, Nxb Phụ nữ, 2006 (Nhã Nam & Nxb Hội Nhà văn tái bản 2013).
3 Các tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, nhà văn Mỹ Joseph Heller, nhà văn Peru Mario Vargas Llosa, nhà văn Mỹ Henri Miller, nhà văn Albania lưu vong tại Pháp Ismail Kadare; trong đó các tiểu thuyết được dẫn của Maria Remarque, Kadare đã được dịch sang tiếng Việt, một số tác phẩm khác của các nhà văn này cũng đã được chuyển dịch.
Xem tiếp…

Diêm Liên Khoa - Cuộc đời và sự nghiệp văn học

20:09 |

DIÊM LIÊN KHOA (阎连科- Yan Lianke)

Nhà văn Trung Quốc

Sinh ngày 24 tháng 08 năm 1958 (Đây là ngày sinh ghi trên giấy tờ, còn ngày sinh thực tế thì không rõ)

Dân tộc: Hán

Nghề nghiệp: Nhà văn

Quốc tịch: Trung Quốc đại lục

Từng học tại: Đại học Hà Nam, Viện Văn nghệ học Giải phóng quân.

Thời gian sáng tác: Từ 1980 đến nay.

Thể loại: Tiểu thuyết, tản văn, kịch bản, lí luận văn học

Sáng tác tiêu biểu: "Nhật quang lưu niên", "Kiên ngạnh như thủy", "Thụ hoạt", "Vì nhân dân phục vụ" (Người tình của phu nhân sư trưởng – bản dịch của Vũ Công Hoan), "Phong nhã tụng", "Tứ thư", "Tạc liệt chí", "Nhật tức"…

Khuynh hướng sáng tác: Chủ nghĩa thần thực (Chủ nghĩa hiện thực thần kì)

Vợ : Trác Li Sa (07 tháng 12 năm 1957)

Con: Nghiêm Tung Nguy (26 tháng 6 năm 1985)

Kí tên: 阎连科 Yan Lianke

I. GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC

1. GIẢI THƯỞNG QUỐC TẾ

Năm 2005 :

 "Đinh trang mộng", Đoạt “Giải thưởng người đọc sách” của Đài Loan Đoạt danh hiệu 10 bộ sách hay viết bằng tiếng Hoa trên toàn thế giới của “Tuần báo Á Châu”Hongkong Được mạng internet Nhật Bản bình chọn là “Bản dịch hay nhất” .

Năm 2008:

"Ngày, tháng, năm" được trung tâm giáo dục quốc gia Pháp giới thiệu vào mục lục sách học sinh trung học cần đọc Dịch giả Brigitte Guilbaud nhận giải thưởng dịch thuật quốc gia với bản dịch Ngày, tháng, năm .

Năm 2009:

"Tôi và cha chú" giành giải thưởng “10 tác phẩm tiếng hoa xuất sắc trên toàn thế giới” của “Tuần báo Á Châu” .

Năm 2010:

"Tứ thư" đoạt giải 5 cuốn hay nhất của “Giải thưởng Hồng lâu mộng” Hongkong .

Năm 2012:

"Đinh trang mộng" được vào vòng chung kết “Giải thưởng văn học Á Châu Man”(Man Asian Literary Prize) năm 2011 lọt vào vòng chung kết của giải thưởng dịch thuật hằng năm của “Báo độc lập” Anh quốc được tờ “Thời báo tài chính” Anh quốc bình giá là “sách hay trong năm” của văn học thế giới .

"Thứ thư" được vào vòng chung kết “Giải thưởng văn học Femina” của Pháp  .

"Thụ hoạt" bản dịch tiếng Anh (Lenin's Kisses) được lọt vào danh sách 10 cuốn sách hay nhất của The New Yorker .

Năm 2013:

Vào vòng chung kết “Giải thưởng Booker quốc tế” Anh quốc  .

Năm 2014

Đoạt “Giải thưởng văn học viết bằng tiếng Hoa trên toàn thế giới của “Hoa Tung” Malaysia ; Đoạt “Giải thưởng văn học Franz Kafka” của Cộng hòa Séc .

"Tạc liệt chí" đoạt giải 5 cuốn hay nhất của “Giải thưởng Hồng lâu mộng” Hongkong .

Năm 2015

"Thụ hoạt" đoạt giải thưởng văn học quốc tế“Twitter”Nhật Bản ; Kiên ngạnh như thủy đoạt giải thưởng dịch thuật của Hội nhà văn Hà Nội – Việt Nam với bản dịch của Nguyễn Thị Minh Thương .

Năm 2016

"Tứ thư" vào vòng chung kết của “Giải thưởng Booker quốc tế” Anh quốc ; vào vòng chung kết giải thưởng Tân hưng chi thanh Oppenheimer của Tuần báo tài chính ; Nhật tức đạt giải nhất “Giải thưởng Hồng lâu mộng” của Hongkong .

2. GIẢI THƯỞNG TRONG NƯỚC

Năm 1990:

"Giấc mơ của người Dao Câu" đoạt Giải thưởng truyện vừa bách hoa toàn quốc của “Tiểu thuyết nguyệt báo” lần thứ 4 ; đoạt giải thưởng văn học “Thập nguyệt” lần thứ 4; đoạt giải thưởng văn học “Tuyển san truyện vừa” năm 1990-1991 .

Năm 1992 "Hạ nhật lạc" đoạt giải thưởng “Tuyển san truyện vừa”  toàn quốc .

Năm 1994 "Dãy núi Bả Lâu" đoạt giải thưởng truyện vừa Thượng Hải .

Năm 1996, "Động Hoàng Kim" đoạt giải thưởng văn học Lỗ Tấn cho truyện toàn quốc vừa lần thứ nhất .

Năm 1997 "Ngày tháng năm" đoạt giải thưởng văn học Lỗ Tấn dành cho truyện vừa toàn quốc lần thứ 2 .

Năm 1999 "Bả Lâu thiên ca" đoạt giải thưởng truyện vừa Thượng Hải lần thứ 5 .

"Đi về hướng Đông Nam" đoạt giải thưởng truyện vừa xuất sắc “Văn học nhân dân” .

Năm 2001

"Kiên ngạnh như thủy" đoạt Giải thưởng tiểu thuyết xuất sắc “Cửu đầu điểu” .

Năm 2004, "Thụ hoạt" đoạt “Giải thưởng văn học Đỉnh quân song niên thế kỉ 21” lần thứ 2; đoạt giải thưởng “Lão Xá” lần thứ 3 .

Năm 2008: "Phong nhã tụng" đoạt Giải thưởng hàng năm của “Cuối tuần phương Nam” .

Năm 2009: "Tôi và cha chú" được hơn 10 đơn vị truyền thông chọn là tác phẩm xuất xắc trong năm .

Năm 2010: "Thụ hoạt" được “Cuối tuần phương Nam” chọn là 10 cuốn sách hay trong 30 năm của Trung Quốc; "Tôi và cha chú" đoạt Giải thưởng văn học Thi Nại Am lần thứ nhất .

Năm 2013, "Tạc liệt chí" được hơn đơn vị truyền thông của Trung Quốc đánh giá là cách hay trong năm; tác giả được “Tuần báo thời sự Trung Quốc”đánh giá là Nhân vật văn hóa trong năm có có ảnh hưởng đến Trung Quốc .

II. CHỊU ẢNH HƯỞNG BỞI

Trung Quốc: Ngô Thừa ân ("Tây du kí"); Lỗ Tấn

Nước ngoài: Gogol, Dostoyevsky, Kafka, Beckett, Camus, Juan Rulfo...

III. LÝ LỊCH CÁ NHÂN

            Diêm Liên Khoa sinh năm 1958 tại thôn Điền Hồ, huyện Tung, Hà Nam, Trung Quốc. Do gia đình nghèo khó, không có thói quen tổ chức sinh nhật, đại đội lại không ghi chép, nên ngày tháng năm sinh không rõ. Từ nhỏ đói khát, phải chăn trâu, cắt cỏ, đi làm thuê và làm các việc ở nông thôn. Tháng 10 năm 1978 nhập ngũ, bắt đầu có cái ăn no, và bắt đầu thay đổi số phận. Trong quân đội từng làm đến chức trưởng ban, đội trưởng, chỉ đạo viên, cán sự và nhà văn chuyên nghiệp phòng sáng tác pháo binh thứ 2 Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc; vì sáng tác Thụ hoạt mà rời quân ngũ năm 2005, chuyển sang làm nhà văn chuyên nghiệp của Hội nhà văn thành phố Bắc Kinh; từ năm 2008 đến nay làm giáo sư giảng dạy về sáng tác tại Đại học Nhân dân Trung Quốc; năm 2016 được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại Đại học khoa học kĩ thuật Hongkong giảng dạy về sáng tác.

IV. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

1. TIỂU THUYẾT

            Năm 1979 đăng truyện ngắn đầu tiên, tính đến nay đã xuất bản 14 cuốn tiểu thuyết, đó là "Nhật quang lưu niên", "Kiên ngạnh như thủy", "Thụ hoạt", "Đinh trang mộng", "Phong nhã tụng", "Tứ thư", "Nhật tức"…; xuất bản hơn 50 cuốn truyện vừa, như "Giấc mơ của người Dao Câu", "Hạ nhật lạc", "Ngày tháng năm", "Bả Lâu thiên ca", "Tỉnh giấc đào nguyên"…; hơn 40 truyện ngắn. Tiểu thuyết của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ 19, sáng tác chủ yếu là tác phẩm tả thực; sau đó cuối những năm 1990, văn phong có sự thay đổi, tác phẩm đậm chất hư cấu, tư tưởng khai phóng và mang màu sắc thần thoại, ngụ ngôn, đồng thời lại trực tiếp nhằm vào khó khăn sinh tồn và sinh mệnh con người, trong đó tiêu biểu là truyện vừa Ngày tháng năm, Bả Lâu thiên ca và tiểu thuyết Nhật quang lưu niên… thu hút được sự chú ý rộng rãi và đánh giá cao của văn đàn Trung Quốc; trong đó các tác phẩm về quân hòa bình, Dao Câu, dãy núi Bả Lâu có ảnh hưởng rất lớn. Đặc biệt là hàng loạt tác phẩm về dãy núi Bả Lâu đã cấu thành thế giới văn học quan trọng nhất của Diêm Liên Khoa, là cảnh quan văn học mà văn học Trung Quốc không thể coi nhẹ. Sau năm 2000, các tác phẩm về “dãy núi Bả Lâu” được xuất bản như Nhật quang lưu niên, Kiên ngạnh như thủy, Thụ hoạt với sắc thái cuồng hoan, hoang đường mới mẻ, sâu sắc, sắc bén, bất an, nội dung trực tiếp nhằm vào lịch sử và hiện thực Trung Quốc, hành động nhân vật tiểu thuyết phức tạp, hoang đường, đã khiến phong cách sáng tác của Diêm Liên Khoa thay đổi lớn,  khiến độc giả không lường trước được, vì thế đã đã gây được sự chú ý lớn hơn và tạo ra nhiều luồng ý kiến khác nhau, đặc biệt khi xuất bản Thụ hoạt, tác giả trực tiếp nêu lên sự hoài nghi đối với “chủ nghĩa hiện thực kiểu Trung Quốc”, đề xướng “hiện thực của chủ nghĩa siêu thực” ,tạo nên tranh luận mới về chủ nghĩa hiện thực trên văn đàn; nhưng ở Pháp, Thụ hoạt với tên là Lenin’s Kisses sau khi xuất bản lại được đánh giá rất cao, sau đó được sự hưởng ứng mãnh liệt mang tính quốc tế. Lúc đó “Báo thế giới” của Pháp đã đánh giá Diêm Liên Khoa như sau: “Nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa thừa sức trở thành Đại văn hào. Không có ai nắm bắt xã hội mạnh mẽ như ông đã nắm bắt xã hội thông qua hình thức tiểu thuyết, tác phẩm của ông có sức lay động kinh người, trong tác phẩm thể hiện chất hài hước có lúc làm người khác tuyệt vọng một cách dễ dàng” . Tờ “Vệ báo” nước Anh gọi “Diêm Liên Khoa là “Bậc thầy châm biếm với sức tưởng tượng phong phú” .Tờ “Danh lợi trường” của Italia tán dương “Diêm Liên Khoa lão luyện trong không gian giữa kì ảo và hiện thực” . Tờ “Báo châm ngôn Frankfurt” của Pháp lịa phân tích “nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa có hai đặc điểm lớn: ông vừa có thiên phú đã viết là viết tác phẩm lớn vừa có dũng khí dám đối mặt với chủ đề nhạy cảm” . Tạp chí “Thế giới” của Nhật Bản lại cho rằng “nhà văn Diêm Liên Khoa và tác phẩm của ông là tọa độ quan trọng khảo sát trình độ và không gian văn học Trung Quốc”  , cùng lúc đó, vì Vì nhân dân phục vụ (Người tình của phu nhân sư trưởng) và Đinh trang mộng liên tục bị cấm, khiến nhà văn trở thành nhà văn “do được chú ý mà bị tranh luận” .Năm 2009 tiểu thuyết Tứ thu thể hiện sức sáng tạo lớn của nhà văn được xuất bản tại Đài Loan, tác phẩm này đã thể hiện cao độ mới nhất của văn học Trung Quốc. Đồng thời, ông cũng đề xướng một cách rõ ràng lí luận văn học “chủ nghĩa thần thực” hoàn toàn mới để văn học Trung Quốc viết ra “sự thực không nhìn thấy, sự thật bị che đậy” và “sự thực không tồn tại” ,trong sự tương tác giữa lí luận và sáng tác này, tiếp đó ông viết tác phẩm có sức gây chấn động nghệ thuật lớn như Tạc liệt chí và Nhật tức … vừa thể hiện “sự thực bên trong tuyệt đối”khiến người đọc bất ngờ, vừa không ngớt khen ngợi. Trên phương diện nhân vật là “người Trung Quốc tuyệt đối”, trên phương diện “chân thực”, là “hiện thực Trung Quốc tuyệt đối”, còn trên phương diện tình tiết và chi tiết của câu chuyện, lại là “thần thực” “có thể” và “không thể” khó bề tưởng tượng và tưởng tượng phi thường; nhận thức về “bóng tối”, “tuyệt vọng” và “tương lai” của hiện thực Trung Quốc khiến người ta nhìn thấy đã sợ .Từ đó, làm cho văn học đương đại Trung Quốc vừa có ý nghĩa hiện đại của văn học thế giới, vừa có sự khác biệt rõ ràng so với chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hoang đường, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của phương Tây, thực sự làm cho văn học Trung Quốc có ý nghĩa hiện đại thuộc về phương Đông. Vì thế, cũng khiến cho tác giả có tầm quốc tế. Từ Vì nhân dân phục vụ (Người tình của phu nhân sư trưởng), Đinh trang mộng đến Thụ hoạt, rồi đến Tứ thư, Tạc liệt chí…; từ Pháp, Anh đến Anh Mĩ, rồi đến Tây Ban Nha, Italia, Nauy, Thụy Điển, Tiệp Khắc… rất nhiều ngôn ngữ và quốc gia, mỗi tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa chỉ cần được dịch ra một thứ ngôn ngữ mới đều thu hút được sự quan tâm bình luận rộng rãi của quốc gia đó. Văn phong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa luôn thay đổi, đây là thách thức đối với độc giả và nhà phê bình. Trên phương diện nội dung, ông là nhà tiểu thuyết suy tư trực tiếp nhất, nhìn thẳng nhất vào lịch sử và hiện thực Trung Quốc, con người Trung Quốc, trên phương diện ttheer loại, ngôn ngữ, mỗi tác phẩm của ông đều có kết cấu khác nhau, ngôn ngữ trần thuật khác nhau, là nhà văn xuất sắc trên phương diện thể loại của Trung Quốc. Vì sáng tác của ông không ngừng thay đổi, vừa làm thay đổi trật tự văn học Trung Quốc, vừa xây dựng một trật tự mới của văn học Trung Quốc. Ông tự xưng mình là “phản đồ của sáng tác”, lại là một người có sức sáng tạo nghệ thuật lớn nhất của văn học Trung Quốc, trên mức độ tương đối lớn, ông là người đã dẫn văn học Trung Quốc phát triển theo một hướng khác trong gần 20 năm. Dường như cũng là nhà văn Trung Quốc duy nhất giành được danh tiếng trên thế giới mà không cần dựa vào chính phủ thúc đẩy “văn học hướng ngoại”.

2. LÍ LUẬN VĂN HỌC

            Trong số các nhà văn đương đại Trung Quốc, Diêm Liên Khoa là người duy nhất có trước tác kiến giải về văn học thế kỉ 19 và thế kỉ 20. Ông diễn giảng văn học, đối thoại văn học ở nhiều nơi trong nước và nước ngoài và chuyên luận lí luận, như những công trình đối thoại và diễn giảng: "Hiện thực của tôi, chủ nghĩa của tôi", "Đôi đũa hồng của bà đồng", "Phân chia và hợp lại", "Tuyển tập các bàn giảng ở nước ngoài của Diêm Liên Khoa", "Trầm mặc và hổn hển" đã cấu thành sự lí giải của ông về văn học Trung Quốc và văn học thế giới mấy chục năm nay. Năm 2011 ông xuất bản cuốn chuyên luận Phát hiện tiểu thuyết thể hiện nhận thức mới của ông về toàn bộ văn học thế giới thế kỉ 19 và thế kỉ 20 trong văn học Trung Quốc và văn học thế giới, mang tính lí luận, tính logic, tính cá nhân độc đáo. Trong chuyên luận này, ông đã đề xuất quan hệ trong sáng tác tiểu thuyết như “nhân quả hoàn toàn”, “nhân quả cục bộ”, “nhân quả một nửa” và “nhân quả bên trong”  đây là “phát hiện mới” trong sáng tác tiểu thuyết, căn cứ vào đó đề xuất “chủ nghĩa thần thực”   trong văn học Trung Quốcmở ra không gian lí luận để văn học Trung Quốc thực sự thâm nhập vào văn học thế giới, vì những tác phẩm của ông, cho nên những lí luận này đang được độc giả và các nhà nghiên cứu thế giới đón nhận và nghiên cứu. Năm 2016 ông được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại đại học khoa học kĩ thuật Hongkong giảng môn sáng tác, bài soạn lí luận văn học 12 bài giảng về sáng tác thế kỉ 19 và 12 bài giảng về sáng tác thế kỉ 20 lại tiến hành phân tích, tổng kết và chứng minh về sáng tác căn cứ trên nhà văn và tác phẩm quan trọng nhất trong 200 năm của văn học thế giới, trong đó 12 bài giảng về sáng tác thế kỉ 20 là sự nhìn lại và chú thích toàn diện về sự truyền bá, ảnh hưởng của văn học thế giới thế kỉ 20 ở Trung Quốc, vừa có giá trị gợi ý lớn đối với người sáng tác, vừa có tính thực tiễn thao tác hóa cao. Về lí luận văn học, Diêm Liên Khoa là một trong những nhà văn giỏi nhất trong việc phân tích, suy tư và chắp bút. Nhiều quan điểm văn học của ông chưa chắc đã được các nhà phê bình và nhà văn hoàn toàn đồng ý, nhưng mọi ngươi fkhoong thể không thừa nhận ông là một tiểu thuyết gia hiếm hoi có “phương pháp luận” độc đáo nhất trên phương diện sáng tác.

III. TẢN VĂN

            Diêm Liên Khoa không chỉ là nhà tiểu thuyết có ý thức sáng tác mang tính hiện đại nhất, độc đáo, hiếm gặp, mà còn là một nhà tản văn trữ tình ít gặp trong số nhà văn Trung Quốc. Tản văn và tiểu thuyết đã cấu thành hai cực văn học của ông. Ý thức hiện đại về tiểu thuyết của ông độc nhất vô nhị trong số các nhà văn Trung Quốc, tưởng tượng cao xa mãnh liệt, tự do bay lượn, có sức tác động mạnh mẽ, mang lại cảm giác hiện đại khiến người đọc rùng mình. Còn tản văn của ông lại hoàn toàn ngược lại, truyền thống, ưu mĩ, mang đậm chất thơ trong mỗi từ ngữ, tỉ mỉ kĩ càng khiến người đọc cảm thán ông là người kế thừa và hấp thu văn học truyền thống Trung Quốc. Tản văn Tôi và cha chú, Nhà số 711 tiêu biểu cho tản văn dài của ông và rất nhiều tập tản văn ngắn của ông, cho dù là cuộc sống thường ngày của người Trung Quốc hay là bốn mùa thay nhau của đại tự nhiên, đều thể hiện ra chất thơ và sự mềm mại, có ảnh hưởng rất lớn đến người đọc Trung Quốc, làm cho người đọc thường không dám tin, nhà tản văn Diêm Liên Khoa này lại chính là nhà tiểu thuyết Diêm Liên Khoa kia. Sáng tác tản văn có tính “phi hư cấu” này của ông đã tạo nên hai mặt của nhà văn, từ đó khiến nhà văn đã trở thành hình tượng nhà văn phong phú, lập thể, toàn phương vị.

V. GIA TỘC

            Diêm Liên Khoa sinh ra trong một gia đình thuần nông tại thôn Điền Hồ huyện Tung, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, phụ thân cơ bản là không biết chữ, cả đời làm ruộng. Từ nhỏ gia cảnh bần hàn, đói khát, nhưng lại ấm áp tình cảm. Gia đình có bốn anh chị em, vì phụ mẫu muốn con cái sau này biết tính toán và biết chữ, cho nên hết sức đầu tư cho con cái học hành, cuối cùng bốn người con đều đã học xong cấp 2, đây là điều hiếm gặp ở nông thôn miền Bắc Trung Quốc những năm 50, 60. Phụ thân Diêm Liên Khoa là Diêm Song Nhạc, vì làm ruộng vất vả, bệnh nhỏ tích thành bệnh lớn, qua đời ở tuổi ngoài 50 vì bệnh tim do hen suyễn tạo nên. Mẹ Diêm Liên Khoa là Chu Linh Tiên, cả đời làm ruộng, cho đến ngày nay vẫn sống ở thôn Điền Hồ huyện Tung, tỉnh Hà Nam. Anh trai Diêm Liên Khoa là Diêm Phát Khoa, một thời làm công nhân mỏ, sau đó làm nhân viên bưu điện cho đến khi về hưu. Chị cả Diêm Liên Khoa là Diêm Tố Cảnh, chị hai Diêm Liên Khoa là Diêm Tố Phấn, đều lấy chồng ở nông thôn, cả đời làm nông nghiệp. Điều đáng nhắc đến là chị hai Diêm Tố Phán và Diêm Liên Khoa cùng thi vào cao trung ở địa phương, nhưng vì gia cảnh khó khăn, nên chị Diêm Liên Khoa chủ động quay về lao động ở nông thôn để cho Diêm Liên Khoa tiếp tục đi học.
            Nhưng Diêm Liên Khoa học cao trung được 1 năm, vì gia cảnh khó khăn, phụ thân và chị cả đều lâm bệnh, vì thế, ông bỏ học đi làm thuê, từ đó bắt dầu một cuộc sống phấn đấu, gian khổ, như là truyền kì.

1977 thi trượt đại học

1978 nhập ngũ

1979 sau khi công bố truyện ngắn đầu tiên Chuyên thiên ma, bắt đầu quá trình gian nan sáng tác và bị trả lại bản thảo

Cuối năm 1981 ra quân về quê, vì yêu văn học, lại có chút thành tích cho nên lại được gọi vào quân đội và được đề bạt làm cán bộ.

Năm 1983 học lớp hàm thụ đại học Hà Nam

Năm 1989 học khoa Văn học học viện Nghệ thuật giải phóng quân Bắc Kinh        

Năm 1994 được điều đến bộ phận chính trị pháp binh thứ 2 Giải phóng quân làm nhà văn, biên kịch chuyên nghiệp.

Năm 2004 rời quân đội chuyển sang làm nhà văn chuyên nghiệp cho hội nhà văn thành phố Bắc Kinh.

Năm 2008 đến nay làm giáo sư đại học Nhân dân Trung Quốc.

Năm 2016 được mời làm giáo sư thỉnh giảng cho đại học Khoa học kĩ thuật Hongkong.

VI. GIA ĐÌNH RIÊNG

            Năm 1984 kết hôn cùng Trác Li Sa, năm 1985 sinh con trai Diêm Tung Nguy, năm 2013 con trai kết hôn, năm 2014 cháu gái chào đời, hiện nay gia đình đều sống ở Bắc Kinh.

VII. TÁC PHẨM CHỦ YẾU

            Từ năm 1979 đến nay, Diêm Liên Khoa sáng ác tổng cộng 15 bộ tiểu thuyết, hơn 50 truyện vừa, hơn 40 truyện ngắn, 3 bộ tản văn dài, 5 tập tùy bút tản văn các loại. 6 cuốn chuyên luận lí luận văn học và diễn giảng văn học. Hơn 10 bộ phim và phim truyền hình dài tập, tổng cộng hơn 1000 vạn chữ. Nhưng vì là nhà văn gây nhiều tranh cãi nhất Trung Quốc cho nên cũng là văn có sách bị cấm nhiều nhất, tiểu thuyết "Vì nhân dân phục vụ", "Đinh trang mộng", "Tứ thư", "Nhật tức" và một phần tùy bút, bài giảng vẫn chưa được xuất bản ở Trung Quốc đại lục. Tác phẩm của ông cũng được dịch ra 30 ngôn ngữ trên thế giới, như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ý, Thụy Điển, Đan Mạch, Nauy, Tiệp Khắc, Hunggary, Nhật, Hàn, Việt Nam, Mông Cổ…, được đón đọc và tiếp nhận rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới.
                     
MỤC LỤC TÁC PHẨM CHỦ YẾU BẰNG TIẾNG TRUNG QUỐC
                 
1.TIỂU THUYẾT


- "Ngục tình cảm", Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng quân, 1991
- "Nữ thanh niên tri thức cuối cùng", Nhà xuất bản Văn nghệ Bách Hoa,1993
- "Vòng sinh tử", Nhà xuất bản Minh Thiên, 1995
- "Chào Kim Liên", Nhà xuất bản Văn nghệ Trung Quốc, 1997
- "Nhật quang lưu niên",Nhà xuất bản Hoa Thành, 1998, Công ty sự nghiệp xuất bản Liên Kinh (Đài Bắc), 2010
- "Kiên ngạnh như thủy", Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang, 2001; Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2009
- "Gà chọi", Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang, 2001
- "Xuyên qua", Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng quân, 2001
- "Hạ nhật lạc", Công ty sự nghiệp xuất bản Liên Kinh (Đài Bắc), 2010
- "Thụ hoạt", Nhà xuất bản Văn nghệ Xuân Phong, 2004; Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2007
- "Đinh trang mộng", Nhà xuất bản Văn hóa nghệ thuật(Hongkong), 2006; Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2006; Công ty trách nhiệm hữu hạn truyền thông tư nhân Linh Tử (Singapore),2006
- "Vì nhân dân phục vụ" (Người tình của phu nhân sư trường); Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2005; Công ty trách nhiệm hữu hạn truyền thông tư nhân Linh Tử (Singapore), 2005; Nhà xuất bản Văn hóa Nghệ thuật (Hongkong),2005
- "Phong nhã tụng",Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2008; Tập đoàn xuất bản Phượng Hoàng, 2008
- "Tứ thư", Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2011; Nhà xuất bản Minh Báo (Hongkong),2011
- "Tạc liệt chí", Nhà xuất bản Văn nghệ Thượng Hải, 2013; Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc), 2013
- "Nhật tức", Nhà xuất bản Mạch Điền (Đài Bắc),2015

2. TẬP TRUYỆN

- "Chuyện quê nhà", Nhà xuất bản Văn nghệ Bách Hoa, 1992
- "Ngụ ngôn hòa bình", Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang, 1994
- "Đi đến thiên đường",          Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc, 1995
- "Diêm Liên Khoa văn tập" (5 quyển), Nhà xuất bản Nhân dân Cát Lâm, 1996
- "Diêm Liên Khoa tập truyện tự tuyển chọn", Nhà xuất bản Văn nghệ Hà Nam, 1997
- "Gia viên hoan lạc", Nhà xuất bản Bắc kinh, 1998
- "Động Hoàng Kim", Nhà xuất bản Văn nghệ, 1998
- "Sáng tối tròn khuyết: Lại nói về thiên cổ dâm phụ Phan Kim Liên", Nhà xuất bản Văn nghệ Trung Quốc, 1999
- "Đi về hướng Đông Nam", Nhà xuất bản Nhà văn, 2000
- "Bả Lâu thiên ca", Nhà xuất bản Văn nghệ Bắc Nhạc, 2001
- "Ba chày gỗ", Nhà xuất bản Thế giới mới, 2002
- "Năm tháng thôn quê", Nhà xuất bản Nhân dân Tân Cương,2002
- "Ngày tháng năm",Nhà xuất bản Nhân dân Tân Cương, 2002; Nhà xuất bản Nguyệt San Minh Báo (Hongkong), 2009
- "Kho tàng nhà văn đương đại" (Quyển về Diêm Liên Khoa), Nhà xuất bản Văn nghệ Nhân dân, 2003
- "Thiên cung đồ", Nhà xuất bản Văn nghệ Giang Tô, 2005
- "Chủ nghĩa lãng mạn cách mạng: Truyện ngắn tiêu biểu của Diêm Liên Khoa", Công ty xuất bản Văn nghệ Xuân Phong, 2006
- "Mẹ là dòng sông", Nhà xuất bản Văn nghệ đại chúng, 2006
- "Giấc mơ của người Dao Câu", Công ty xuất bản Văn nghệ Xuân Phong,2007
- "Diêm Liên Khoa văn tập" (12 quyển), Nhà xuất bản Nhật báo Nhân dân; Nhà xuất bản Nhân dân Vân Nam, Nhà xuất bản Nhân dân Thiên Tân,2007
- "Tuyển tập tác phẩm của Diêm Liên Khoa" (17 quyển)                 
- "Khu cấm số 4", "Thiên công đồ", Công ty xuất bản Vạn Quyển, 2009
- "Đi về hướng Đông Nam", Công ty xuất bản Vạn Quyển, 2009
- "Tuyển tập truyện của Diêm Liên Khoa", Tân địa văn hóa (Đài Bắc), 2010
- "Tỉnh giấc đào viên", Hoàng Sơn thư xã,2010
- "Phù dung kĩ nữ: Biên niên truyện vừa của Diên Liên Khoa (1988-1990)", tập 1, Nhà xuất bản văn nghệ Triết Giang, 2011
- "Trung thổ hoàn hương: Biên niên truyện vừa của Diêm Liên Khoa (1991-1993)"(tập 2),Nhà xuất bản Văn nghệ Triết Giang, 2011
- "Dãy núi Bả Lâu: Biên niên truyện vừa của Diêm Liên Khoa (1993-1996)"(Tập 3)          Nhà xuất bản Văn nghệ Triết Giang, 2011
- "Tỉnh giấc đào viên: Biên niên truyện vừa của Diêm Liên Khoa (1996-2009)"(tập 4), Nhà xuất bản Văn nghệ Triết Giang, 2011
- "Tuyển tập truyện ngắn Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Nhân dân Vân Nam,2013
- "Diêm Liên Khoa đen trắng" – bốn truyện vừa (4 quyển), Nhà xuất bản Văn học Nhân dân, 2014; Nhị ngư Văn hóa (Đài Bắc), 2014

3. TUYỂN TẬP VĂN LUẬN, TÙY BÚT TẢN VĂN

- "Xiềng xích xám xịt", Nhà xuất bản Văn nghệ Bách Hoa, 1999
- "Về nhà", Nhà xuất bản Giải phóng quân, 2002
- "Đôi đũa hồng của bà đồng: Ghi chép đối thoại giữa nhà văn và tiến sĩ văn học" (viết chung cùng Lương Hồng), Nhà xuất bản Văn nghệ Xuân Phong,2002
- "Vượt qua mọi biên giới: Tản văn Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang,2005
- "Đất vàng cỏ xanh: Tản văn tình thân của Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Hoa Thành, 2008
- "Kĩ xảo và linh hồn: Ghi chép đọc sách của Diêm Liên Khoa",Nhà xuất bản Hoa Thành,2008
- "Phân chia và hợp lại: Diễn giảng văn học của Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Hoa Thành, 2008
- Tản văn Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Văn nghệ Triết Giang, 2009
- "Tôi và cha chú", Ấn khắc văn học (Đài Bắc), 2009; Nhà xuất bản Nhân dân Vân Nam, 2009
- "Hiện thực của tôi, chủ nghĩa của tôi: Ghi chép đối thoại văn học của Diêm Liên Khoa"(viết chung cùng Trương Học Hân); Nhà xuất bản văn học Nhân dân Trung Quốc,2011
- "Hãy đợi đấy", Trung tâm xuất bản phương Đông,2011
- "Phát hiện tiểu thuyết", Nhà xuất bản Đại học Nam Khai, 2011; Ấn khắc văn học (Đài Bắc),2011
- "Nhà số 711", Nhà xuất bản Nhân dân Giang Tô, 2012; Nhà xuất bản Liên Kinh (Đài Bắc), 2012
- Tản mạn: Tập diễn giảng ở nước ngoài của Diêm Liên Khoa, Nhà xuất bản Trung Tín, 2012
- "Tản văn Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Nhân dân Vân Nam, 2013
- "Khó nhất của sáng tác là hồ đồ", Nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc, 2013
- "Những bài giảng ở hải ngoại", Nhà xuất bản Văn học Nhân dân Trung Quốc, 2013
- "Ba dòng sông của hai người", "Cảm niệm", Nhị Ngư văn hóa (Đài Bắc), Nhà xuất bản Văn học Nhân dân, 2013, 2014
- "Đi trên con đường của người khác: Ghi chép ngữ tứ của Diêm Liên Khoa", Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải, 2014
- "Diêm Liên Khoa đen trắng" – Bốn quyển tản văn (4 quyển), Nhà xuất bản Văn học Nhân dân, 2014
- "Trầm mặc và hổn hển: Văn học Trung Quốc như tôi đã trải qua", Ấn khắc (Đài Bắc), 2014
12 tháng của hai thế hệ (viết chung với Tưởng Phương Châu), Ấn khắc (Đài Bắc), 2015

 (Đỗ Văn Hiểu dịch từ tài liệu do nhà văn Diêm Liên Khoa cung cấp)

VIII        CHÚ THÍCH
1 http://wenxueyuan.ruc.edu.cn/sz/show/?36
2 http://www.chinadaily.com.cn/hqph/2006-03/17/content_543414.htm
3 http://xuewen.cnki.net/CJFD-HJKS201235032.html
4 http://baike.baidu.com/view/294700.htm
5 http://210.31.160.111:82/paper/2014/04/04/20140404091002850.pdf
6 http://news.gmw.cn/newspaper/2014-12/01/content_102427061.htm
7 http://culture.ifeng.com/event/detail_2012_07/27/16350006_0.shtml
8 http://news.163.com/12/0112/07/7NI55TCO00014AED.html
9 http://baike.baidu.com/link?url=8VXzHfa5fT0VmELri1d7Vjh8Ll8cbROWxcpqQWYUHocQSJRSBlKGNxI5YbuPG9mRJZwxwsYFCepXGUtu7LATNesqqrnXwpFdbuLB6JZiW-RQ5RzVZrANirPSPI7L3b9U2D4Av2tfHh6XswaK3aBzquj_hIyjM9sDTMZ1DikFMKaDsKtw52cxMZKxUuTMM3UKQQTnJUwQn9XrBk-2YslKNq#3
10 http://210.31.160.111:82/paper/2014/04/04/20140404091002850.pdf
11 http://210.31.160.111:82/paper/2014/04/04/20140404091002850.pdf
12 http://news.ifeng.com/gundong/detail_2013_01/29/21697388_0.shtml
13 http://cul.qq.com/a/20150518/045864.htm
14 http://news.xinhuanet.com/overseas/2013-08/04/c_116803914.htm
15 http://news.xinhuanet.com/culture/2014-10/24/c_127135802.htm
16 http://news.takungpao.com/paper/q/2014/0718/2609413.html
17 http://japan.people.com.cn/n/2015/0327/c35465-26757734.html
18 http://culture.china.com/reading/literature/11170682/20151013/20546504.html
19 http://cul.sohu.com/20160310/n440015080.shtml
20 http://blog.sina.com.cn/s/blog_165bdb8b20102yjkt.html
21 http://cul.qq.com/a/20160719/037115.htm
22 http://www.baike.com/wiki/《小说月报》百花奖
23 http://book.sina.com.cn/news/v/2013-10-14/1748549102_2.shtml
24 http://news.xinhuanet.com/book/2007-09/28/content_6807353.htm
25 http://blog.sina.com.cn/s/blog_5d68a0af0102ed6f.html
 26 http://baike.baidu.com/link?url=LjzPf54oYEpVMyWlMBte-SrNGv2YkMM_jbp0DtoXOs1GS8jOyJU74jHXoWgTTe7d
 27 http://baike.baidu.com/link?url=Nt6ZcP97Mspng-geKOFCDUm4RB0R6WOCvTyIr0GFR5Q1HvN8gNxM1wQto2Z5bllKpPTPTYV0D0bcad9MCP8aeFjt_uNU-elcUemYYdwYHKkFu7i-JtAFFO2CbGetEdbz
28 http://www.chinawriter.com.cn/bk/2014-09-22/78045.html
29 http://news.xinhuanet.com/book/2007-09/28/content_6807353.htm
30 http://news.xinhuanet.com/book/2007-09/28/content_6807353.htm
31 http://www.gmw.cn/01ds/2003-01/08/07-98A2897EAD5943C448256CA800011A77.htm
32 http://www.writermagazine.cn/2005/5/dier.htm
33 http://news.xinhuanet.com/book/2005-01/15/content_2462871.htm
34 http://www.infzm.com/content/23098
35 http://www.cpin.com.cn/(S(5rqkho45ce5tbl55a2c01t55))/Item.aspx?id=763057
36 http://ent.ifeng.com/zz/detail_2011_10/14/9849224_0.shtml
37 http://news.ruc.edu.cn/archives/73295
38 ——见《受活》后记。
39 http://baike.baidu.com/view/294700.htm
40 http://www.anyv.net/index.php/article-271557
41 http://chuansong.me/n/2721032
42 http://www.anyv.net/index.php/article-271557
43 http://culture.ifeng.com/a/20160319/47974091_0.shtml
44 ——陈思和语。
45 ——见《发现小说》(2011年南开大学出版社)。
46 ——见阎连科在接受卡夫卡文学奖时的演讲《上天和命运选定那个感受黑暗的人》。
47 ——《四书》前言。
48 ——见《发现小说》第2345章。
49 ——见《发现小说》第6章。


九、参考文献
梁鸿、蒋书丽:《阎连科文学年谱》,《东吴学术》2013年第5
十、外部链接
Xem tiếp…